Connect with us

Quan điểm - Tranh luận

Vì sao mấy đứa Gen Y không hạnh phúc?

*Chú thích: Yuppie là một thuật ngữ được sử dụng vào đầu những năm 1980 cho những người trẻ có công việc chuyên môn và phong cách sống thời thượng ở thành thị.
———————————————————————————————————————-
Hãy làm quen với Lucy.
Lucy là một phần của Gen Y, thế hệ sinh từ cuối thập niên 70 đến khoảng giữa thập niên 90. Cổ cũng là một phần của văn hóa “yuppie”, chiếm đa số những người thuộc Gen Y.
Tôi gọi những thanh niên yuppie này là GYPSYs – Gen Y Protagonist & Special Yuppies, những người tự cho mình là nhân vật chính đặc biệt trong một câu chuyện cũng đặc biệt không kém. Một khái niệm độc đáo chứ hả? Lucy rất tận hưởng đời sống GYPSY của cổ và cũng rất hài lòng khi được là chính mình. Lucy chỉ lấn cấn có một điều:
Lucy cảm thấy không hạnh phúc lắm.
Để đi đến tận cùng vấn đề, trước hết chúng ta cần xác định điều gì khiến người ta hạnh phúc hay không hạnh phúc. Thực ra nó là một công thức đơn giản:
Công thức này khá thẳng thắn – khi thực tế cuộc sống của ai đó tốt hơn kỳ vọng thì họ sẽ hạnh phúc. Khi thực tế hóa ra tệ hơn kỳ vọng, họ sẽ không hạnh phúc.
Để hiểu rõ hơn về bối cảnh, chúng ta sẽ mang cả bố mẹ Lucy vào thảo luận này.
Bố mẹ Lucy sinh vào thập niên 50, thuộc thế hệ Baby Boomers (thế hệ bùng nổ dân số). Họ được nuôi lớn bởi ông bà Lucy, thành viên của thế hệ G.I, hay còn gọi là “Thế hệ Toẹt zời Nhất”, lớn lên trong cuộc Đại Khủng hoảng, tham gia Thế chiến Thứ II và chắc chắn không có ai là GYPSY.
Ông bà của Lucy, trải qua thời kỳ Đại Khủng hoảng, bị ám ảnh với an ninh tài chính nên họ định hướng cho con xây dựng một sự nghiệp thực dụng, an toàn. Họ muốn sự nghiệp của bố mẹ Lucy phải là một bãi cỏ xanh hơn của mình, và bố mẹ Lucy lớn lên tưởng tượng về một sự nghiệp thịnh vượng, ổn định cho bản thân. Kiểu như này này:
Họ được dạy rằng không gì có thể ngăn họ có được một sự nghiệp như thảm cỏ xanh tươi tốt kia, nhưng họ sẽ phải làm việc chăm chỉ nhiều năm liền để đạt được nó.
Con đường sự nghiệp theo mong đợi của Baby Boomer
Để lại sau lưng tuổi trẻ hippie chọc-phá-thiên-hạ-gần-xa, bố mẹ Lucy tốt nghiệp và lên đường xây dựng sự nghiệp. Thập niên 70, 80 rồi 90 trôi qua, thế giới bước vào một giai đoạn thịnh vượng chưa từng có tiền lệ. Bố mẹ Lucy làm tốt hơn cả họ kỳ vọng. Điều này khiến họ cảm thấy biết ơn và lạc quan.
Con đường sự nghiệp thực tế của Baby Boomer
Có được một cuộc sống êm ả, tích cực hơn bố mẹ mình, họ cũng muốn Lucy thừa hưởng tinh thần lạc quan và tiềm năng vô hạn. Và không chỉ có họ. Baby Boomer khắp mọi nơi đều nói với những đứa con Gen Y của mình rằng chúng có thể trở thành bất cứ gì chúng muốn, gieo vào đầu chúng khái niệm “nhân vật chính đặc biệt” ở sâu trong tiềm thức. Điều này khiến mấy đứa GYPSY cảm thấy tràn trề hi vọng về sự nghiệp của mình, đến nỗi mục tiêu “thảm cỏ xanh của sự thịnh vượng bền vững” cũng không đủ với tụi nó. Thảm cỏ của mấy đứa GYPSY còn phải có nhiều hoa.
Điều này dẫn đến sự thật đầu tiên về mấy đứa GYPSY:

Mấy đứa GYPSY tham vọng dữ dội

Mấy đứa GYPSY cần từ sự nghiệp nhiều hơn là một thảm cỏ đẹp thịnh vượng và vững chắc. Sự thật là thảm cỏ xanh không hẳn nổi bật hay đủ độc đáo với GYPSY.  Baby Boomer muốn thực hiện Giấc Mơ Mỹ, còn GYPSY lại muốn thực hiện Giấc Mơ Của Riêng Mình.
Cal Newport chỉ ra rằng “theo đuổi đam mê của bạn” là câu khẩu hiệu chỉ vừa mới xuất hiện trong khoảng 20 năm trở lại đây, dựa trên báo cáo từ công cụ Ngram của Google, một công cụ có thể tính được một cụm từ xuất hiện bao nhiêu lần trên báo trong một khoảng thời gian nhất định. Công cụ này cũng cho thấy cụm từ “sự nghiệp ổn định” đã trở nên lỗi thời, trong khi cụm từ “sự nghiệp thỏa nguyện” đang hot hơn rất nhiều.
Thật ra, GYPSY cũng muốn nền kinh tế thịnh vượng như thời cha mẹ họ – chỉ là họ cũng muốn tận hưởng sự mãn nguyện từ sự nghiệp của mình, điều mà cha mẹ họ không nghĩ đến nhiều.
Bên cạnh đó, còn một thứ khác cũng đang xảy ra. Trong khi mục tiêu sự nghiệp nói chung của Gen Y đang trở nên cụ thể và tham vọng hơn hẳn, Lucy còn nhận được một thông điệp thứ hai suốt thời thơ ấu nữa cơ:
Rồi, chắc là đã đến lúc nói về sự thật thứ hai của GYPSY:

Mấy đứa GYPSYs đều bị ảo tưởng

Lucy được dạy rằng: “Ừa, chắc chắn là ai rồi cũng sẽ có một sự nghiệp thỏa nguyện, nhưng mình thì đặc biệt tuyệt vời kiểu thế, nên là sự nghiệp và đường đời của mình sẽ nổi bật hơn đám đông.” Thế nên dù cả một thế hệ đã có những mục tiêu bạo dạn là một thảm cỏ đầy hoa, mỗi cá nhân GYPSY còn nghĩ là tụi nó sinh ra vì những mục tiêu còn xịn hơn – Một con kỳ lân ngay trên thảm cỏ đầy hoa.
Vì sao suy nghĩ như này là ảo tưởng? Bởi vì đây là cách mà mọi GYPSY đều nghĩ và điều đó đi ngược lại định nghĩa về đặc biệt.
Đặc biệt (tính từ)
Khác hẳn những trường hợp thông thường về tính chất, chức năng hoặc mức độ 
Chiếu theo định nghĩa này thì hầu hết chả ai đặc biệt cả, nếu không thì “đặc biệt” còn có nghĩa lí gì.
Ngay lúc này nè, mấy đứa GYPSY đang đọc cái này sẽ nghĩ, “Ờ nói hay đấy…nhưng tao đích thực là thiểu số đặc biệt nè” – đây mới là vấn đề. Một ảo tưởng thứ hai của GYPSY sẽ xuất hiện khi GYPSY bước vào thị trường tuyển dụng. Nếu kỳ vọng của bố mẹ Lucy là sau nhiều năm làm việc chăm chỉ họ sẽ có một sự nghiệp tuyệt vời, thì Lucy lại cho rằng một sự nghiệp tuyệt vời là điều hiển nhiên dành cho một cá nhân xuất sắc như cổ. Với Lucy thì đây chỉ là vấn đề thời gian và lựa chọn con đường cần đi. Mong đợi của Lucy trước khi đi làm sẽ kiểu như này:
Điều không may làthế giới hóa ra chẳng phải nơi dễ dàng gì, và lạ ghê, con đường sự nghiệp hóa ra cũng khó nhằn lắm. Một sự nghiệp tuyệt vời sẽ mất nhiều năm đổ mồ hôi, sôi nước mắt và đổ cả máu, dù chúng có hoa hay kỳ lân trên đó hay không. Những người thành công nhất cũng hiếm khi làm được gì tuyệt vời khi còn tuổi đôi mươi.
Nhưng mấy đứa GYPSY thì chẳng định chấp nhận chuyện đó đâu.
Paul Harvey, một giáo sư Đại học New Hampshire và đồng thời chuyên gia về GYPSY, đã nghiên cứu về chủ đề này. Ông tìm ra rằng Gen Y có “những mong đợi không thực tế và phản kháng mạnh mẽ đối với phản hồi tiêu cực, ” rồi còn “có cái nhìn thổi phồng về bản thân.” Ông nói rằng “nguồn cơn ức chế lớn nhất của những người ý thức mạnh về quyền lợi là mong đợi của họ không được đáp ứng. Ho thường xuyên cảm thấy mình xứng đáng có được mức độ tôn trọng nhất định và những phần thưởng không phù hợp với khả năng cũng như nỗ lực thực tế, thế nên họ có thể sẽ không nhận được sự tôn trọng và phần thưởng mà mình mong đợi.”
Với những ai đang tuyển dụng gen Y, Harvey gợi ý câu hỏi phỏng vấn, “Bạn có cảm thấy mình vượt trội hơn đồng nghiệp/bạn cùng lớp,… không? Nếu có thì vì sao?” Ông cho rằng “nếu ứng viên trả lời có cho câu đầu nhưng ngắc ngứ không nói được vì sao, có thể là có vấn đề nhận thức quyền lợi đấy. Đó là bởi vì những nhận thức về quyền lợi thường dựa trên nhận định vô căn cứ về sự vượt trội và sự xứng đáng. Họ ngộ nhận rằng bản thân mình, bằng cách nào đó, đặc biệt hơn và cái thiếu là sự công nhận thực tế với niềm tin này, có lẽ là vì lòng tự trọng của họ đã được xây dựng một cách thái quá khi còn trẻ.” Và bởi vì thế giới coi tài trí là một yếu tố không thể thiếu, vài năm sau khi ra trường Lucy thấy mình đang ở đây:
Tham vọng cực đoan của Lucy, cộng với sự kiêu ngạo đi cùng ảo tưởng về giá trị bản thân, đã khiến cho cổ kỳ vọng quá lớn dù mới ra trường vài năm. Và thực tế thì kém hơn hẳn so với những kỳ vọng đó, khiến cho điểm số hạnh phúc “thực tế – kỳ vọng” ra dấu âm.
Tệ hơn nữa, bên cạnh tất cả những điều này, mấy đứa GYPSY còn có một vấn đề nữa bị chung cả thế hệ:

GYPSY hay bị chế nhạo

Hẳn là không ít người từ trường cấp 3 hay cao đẳng của bố mẹ Lucy đã có một sự nghiệp thành công hơn cả bố mẹ cổ. Và theo thời gian, dù có thể họ đã nghe tin này nọ kia về chuyện đó thì hầu hết họ cũng chẳng thực sự rõ chuyện gì đang xảy ra với sự nghiệp của người khác.
Trong khi đó, Lucy lại thấy mình liên tục bị chế nhạo bởi một hiện tượng thời hiện tại: Tạo Dựng Hình Ảnh Trên Facebook.

Mạng xã hội tạo cho Lucy một thế giới nơi mà A) ai làm gì cũng rõ mồn một, B) hầu hết mọi người đều tạo ra một phiên bản thổi phồng của chính họ, và C) những người rộn ràng nhất về sự nghiệp của mình thường là những người có sự nghiệp (hay mối quan hệ) đang tiến triển tốt nhất, trong khi những người phải chật vật thì có xu hướng không đưa tin gì về tình hình của họ. Điều này khiến Lucy cảm thấy, một cách sai lầm, rằng mọi người đang làm rất tốt, càng tăng thêm sự khổ sở của cổ:

Vậy nên đó là lí do Lucy không hạnh phúc, hoặc ít nhất là cảm thấy ức chế và không thỏa đáng trong lòng. Thực ra, Lucy có lẽ đã bắt đầu sự nghiệp hoàn toàn tốt đẹp, chỉ là đối với cổ thì nó đáng thất vọng mà thôi.
Đây là lời khuyên của tôi dành cho Lucy:
1) Hãy cứ tham vọng dữ dội. Thế giới hiện tại vẫn có rất nhiều cơ hội cho những người tham vọng tìm kiếm thành công đầy hoa và thỏa nguyện. Con đường cụ thể có thể không rõ ràng nhưng đi rồi sẽ đến – hãy cứ bắt đầu bước đi từ đâu đó.
2) Hãy thôi suy nghĩ mình đặc biệt. Sự thật là hiện giờ bạn không có gì đặc biệt cả. Bạn chỉ là một người trẻ thiếu kinh nghiệm không có gì nhiều để dâng hiến. Bạn có thể trở nên đặc biệt nếu làm việc thật chăm chỉ trong thời gian dài.
3) Hãy mặc kệ người khác. Thảm cỏ của người khác trông xanh hơn là chuyện bình thường, nhưng trong thế giới tạo dựng hình ảnh hiện tại, thảm cỏ của người khác cứ như là một đồng cỏ đầy vẻ vang. Sự thật là tất cả mọi người đều do dự như nhau, cũng tự vấn bản thân và ức chế như bạn, và nếu bạn cứ tập trung làm việc của mình thì bạn sẽ chẳng bao giờ có lí do gì để đố kỵ người khác cả.
———————————————————————————————————————-
-Note của người dịch-
Trong thế giới không ngừng thao thao về những người trẻ can đảm bạo dạn, chăm chỉ tận hiến, thành công rực rỡ, cuộc đời đầy hoa, thật dễ để chúng ta nghĩ rằng bản thân mình yếu kém, hoặc chỉ cần theo đuổi đam mê là chúng ta sẽ sớm được như họ. Thế giới toàn cầu hóa ngày nay dù mở ra nhiều cơ hội thì con đường thành công vẫn đầy mơ hồ giống như thế hệ cha mẹ, ông bà chúng ta. Chẳng ai thực sự biết bí mật thành công trong cuộc sống cả.
Dẫu vậy, chắc chắn sự nỗ lực nâng cao khả năng bản thân sẽ luôn có lợi cho chúng ta trên con đường sự nghiệp. Con đường sự nghiệp của mình khởi đầu rất chông gai do lựa chọn làm trái ngành học (lại vì đam mê). Mình xuất phát sau những bạn đồng trang lứa, không ít người bây giờ đã lên quản lí, lên sếp. Sau một thời gian dài tự vấn bản thân, mình nhận ra ngành mình đang làm có những đặc thù riêng và bản thân mình cũng có những đặc thù riêng không thể làm được như các bạn mình. Nhưng mình tin rằng, bây giờ rất có thể mình đang ở phía sau các bạn, chỉ cần mình không ngừng tiến bộ thì mình sẽ sẵn sàng nắm lấy cơ hội khi nó đến.
Mình cũng từng tin rằng bản thân mình đặc biệt, là nổi bật, là tài năng khác thường. Cho đến khi một người đàn anh nói với mình:
Em không phải là người đặc biệt cho đến khi em làm điều gì đó đặc biệt!” 
Mình nghĩ điều này đúng với tất cả chúng ta.

“>

*Mình dịch từ bài “Why Generation Y Yuppies Are Unhappy” của Tim Urban trên Wait But Why. Dù bài viết đã khá lâu rồi nhưng mình thấy những nội dung bàn tới vẫn đúng với bây giờ và cả một phần của Gen Z.
*Chú thích: Yuppie là một thuật ngữ được sử dụng vào đầu những năm 1980 cho những người trẻ có công việc chuyên môn và phong cách sống thời thượng ở thành thị.
———————————————————————————————————————-
Hãy làm quen với Lucy.
Lucy là một phần của Gen Y, thế hệ sinh từ cuối thập niên 70 đến khoảng giữa thập niên 90. Cổ cũng là một phần của văn hóa “yuppie”, chiếm đa số những người thuộc Gen Y.
Tôi gọi những thanh niên yuppie này là GYPSYs – Gen Y Protagonist & Special Yuppies, những người tự cho mình là nhân vật chính đặc biệt trong một câu chuyện cũng đặc biệt không kém. Một khái niệm độc đáo chứ hả? Lucy rất tận hưởng đời sống GYPSY của cổ và cũng rất hài lòng khi được là chính mình. Lucy chỉ lấn cấn có một điều:
Lucy cảm thấy không hạnh phúc lắm.
Để đi đến tận cùng vấn đề, trước hết chúng ta cần xác định điều gì khiến người ta hạnh phúc hay không hạnh phúc. Thực ra nó là một công thức đơn giản:
Công thức này khá thẳng thắn – khi thực tế cuộc sống của ai đó tốt hơn kỳ vọng thì họ sẽ hạnh phúc. Khi thực tế hóa ra tệ hơn kỳ vọng, họ sẽ không hạnh phúc.
Để hiểu rõ hơn về bối cảnh, chúng ta sẽ mang cả bố mẹ Lucy vào thảo luận này.
Bố mẹ Lucy sinh vào thập niên 50, thuộc thế hệ Baby Boomers (thế hệ bùng nổ dân số). Họ được nuôi lớn bởi ông bà Lucy, thành viên của thế hệ G.I, hay còn gọi là “Thế hệ Toẹt zời Nhất”, lớn lên trong cuộc Đại Khủng hoảng, tham gia Thế chiến Thứ II và chắc chắn không có ai là GYPSY.
Ông bà của Lucy, trải qua thời kỳ Đại Khủng hoảng, bị ám ảnh với an ninh tài chính nên họ định hướng cho con xây dựng một sự nghiệp thực dụng, an toàn. Họ muốn sự nghiệp của bố mẹ Lucy phải là một bãi cỏ xanh hơn của mình, và bố mẹ Lucy lớn lên tưởng tượng về một sự nghiệp thịnh vượng, ổn định cho bản thân. Kiểu như này này:
Họ được dạy rằng không gì có thể ngăn họ có được một sự nghiệp như thảm cỏ xanh tươi tốt kia, nhưng họ sẽ phải làm việc chăm chỉ nhiều năm liền để đạt được nó.
Con đường sự nghiệp theo mong đợi của Baby Boomer
Để lại sau lưng tuổi trẻ hippie chọc-phá-thiên-hạ-gần-xa, bố mẹ Lucy tốt nghiệp và lên đường xây dựng sự nghiệp. Thập niên 70, 80 rồi 90 trôi qua, thế giới bước vào một giai đoạn thịnh vượng chưa từng có tiền lệ. Bố mẹ Lucy làm tốt hơn cả họ kỳ vọng. Điều này khiến họ cảm thấy biết ơn và lạc quan.
Con đường sự nghiệp thực tế của Baby Boomer
Có được một cuộc sống êm ả, tích cực hơn bố mẹ mình, họ cũng muốn Lucy thừa hưởng tinh thần lạc quan và tiềm năng vô hạn. Và không chỉ có họ. Baby Boomer khắp mọi nơi đều nói với những đứa con Gen Y của mình rằng chúng có thể trở thành bất cứ gì chúng muốn, gieo vào đầu chúng khái niệm “nhân vật chính đặc biệt” ở sâu trong tiềm thức. Điều này khiến mấy đứa GYPSY cảm thấy tràn trề hi vọng về sự nghiệp của mình, đến nỗi mục tiêu “thảm cỏ xanh của sự thịnh vượng bền vững” cũng không đủ với tụi nó. Thảm cỏ của mấy đứa GYPSY còn phải có nhiều hoa.
Điều này dẫn đến sự thật đầu tiên về mấy đứa GYPSY:

Mấy đứa GYPSY tham vọng dữ dội

Mấy đứa GYPSY cần từ sự nghiệp nhiều hơn là một thảm cỏ đẹp thịnh vượng và vững chắc. Sự thật là thảm cỏ xanh không hẳn nổi bật hay đủ độc đáo với GYPSY.  Baby Boomer muốn thực hiện Giấc Mơ Mỹ, còn GYPSY lại muốn thực hiện Giấc Mơ Của Riêng Mình.
Cal Newport chỉ ra rằng “theo đuổi đam mê của bạn” là câu khẩu hiệu chỉ vừa mới xuất hiện trong khoảng 20 năm trở lại đây, dựa trên báo cáo từ công cụ Ngram của Google, một công cụ có thể tính được một cụm từ xuất hiện bao nhiêu lần trên báo trong một khoảng thời gian nhất định. Công cụ này cũng cho thấy cụm từ “sự nghiệp ổn định” đã trở nên lỗi thời, trong khi cụm từ “sự nghiệp thỏa nguyện” đang hot hơn rất nhiều.
Thật ra, GYPSY cũng muốn nền kinh tế thịnh vượng như thời cha mẹ họ – chỉ là họ cũng muốn tận hưởng sự mãn nguyện từ sự nghiệp của mình, điều mà cha mẹ họ không nghĩ đến nhiều.
Bên cạnh đó, còn một thứ khác cũng đang xảy ra. Trong khi mục tiêu sự nghiệp nói chung của Gen Y đang trở nên cụ thể và tham vọng hơn hẳn, Lucy còn nhận được một thông điệp thứ hai suốt thời thơ ấu nữa cơ:
Rồi, chắc là đã đến lúc nói về sự thật thứ hai của GYPSY:

Mấy đứa GYPSYs đều bị ảo tưởng

Lucy được dạy rằng: “Ừa, chắc chắn là ai rồi cũng sẽ có một sự nghiệp thỏa nguyện, nhưng mình thì đặc biệt tuyệt vời kiểu thế, nên là sự nghiệp và đường đời của mình sẽ nổi bật hơn đám đông.” Thế nên dù cả một thế hệ đã có những mục tiêu bạo dạn là một thảm cỏ đầy hoa, mỗi cá nhân GYPSY còn nghĩ là tụi nó sinh ra vì những mục tiêu còn xịn hơn – Một con kỳ lân ngay trên thảm cỏ đầy hoa.
Vì sao suy nghĩ như này là ảo tưởng? Bởi vì đây là cách mà mọi GYPSY đều nghĩ và điều đó đi ngược lại định nghĩa về đặc biệt.
Đặc biệt (tính từ)
Khác hẳn những trường hợp thông thường về tính chất, chức năng hoặc mức độ 
Chiếu theo định nghĩa này thì hầu hết chả ai đặc biệt cả, nếu không thì “đặc biệt” còn có nghĩa lí gì.
Ngay lúc này nè, mấy đứa GYPSY đang đọc cái này sẽ nghĩ, “Ờ nói hay đấy…nhưng tao đích thực là thiểu số đặc biệt nè” – đây mới là vấn đề. Một ảo tưởng thứ hai của GYPSY sẽ xuất hiện khi GYPSY bước vào thị trường tuyển dụng. Nếu kỳ vọng của bố mẹ Lucy là sau nhiều năm làm việc chăm chỉ họ sẽ có một sự nghiệp tuyệt vời, thì Lucy lại cho rằng một sự nghiệp tuyệt vời là điều hiển nhiên dành cho một cá nhân xuất sắc như cổ. Với Lucy thì đây chỉ là vấn đề thời gian và lựa chọn con đường cần đi. Mong đợi của Lucy trước khi đi làm sẽ kiểu như này:
Điều không may làthế giới hóa ra chẳng phải nơi dễ dàng gì, và lạ ghê, con đường sự nghiệp hóa ra cũng khó nhằn lắm. Một sự nghiệp tuyệt vời sẽ mất nhiều năm đổ mồ hôi, sôi nước mắt và đổ cả máu, dù chúng có hoa hay kỳ lân trên đó hay không. Những người thành công nhất cũng hiếm khi làm được gì tuyệt vời khi còn tuổi đôi mươi.
Nhưng mấy đứa GYPSY thì chẳng định chấp nhận chuyện đó đâu.
Paul Harvey, một giáo sư Đại học New Hampshire và đồng thời chuyên gia về GYPSY, đã nghiên cứu về chủ đề này. Ông tìm ra rằng Gen Y có “những mong đợi không thực tế và phản kháng mạnh mẽ đối với phản hồi tiêu cực, ” rồi còn “có cái nhìn thổi phồng về bản thân.” Ông nói rằng “nguồn cơn ức chế lớn nhất của những người ý thức mạnh về quyền lợi là mong đợi của họ không được đáp ứng. Ho thường xuyên cảm thấy mình xứng đáng có được mức độ tôn trọng nhất định và những phần thưởng không phù hợp với khả năng cũng như nỗ lực thực tế, thế nên họ có thể sẽ không nhận được sự tôn trọng và phần thưởng mà mình mong đợi.”
Với những ai đang tuyển dụng gen Y, Harvey gợi ý câu hỏi phỏng vấn, “Bạn có cảm thấy mình vượt trội hơn đồng nghiệp/bạn cùng lớp,… không? Nếu có thì vì sao?” Ông cho rằng “nếu ứng viên trả lời có cho câu đầu nhưng ngắc ngứ không nói được vì sao, có thể là có vấn đề nhận thức quyền lợi đấy. Đó là bởi vì những nhận thức về quyền lợi thường dựa trên nhận định vô căn cứ về sự vượt trội và sự xứng đáng. Họ ngộ nhận rằng bản thân mình, bằng cách nào đó, đặc biệt hơn và cái thiếu là sự công nhận thực tế với niềm tin này, có lẽ là vì lòng tự trọng của họ đã được xây dựng một cách thái quá khi còn trẻ.” Và bởi vì thế giới coi tài trí là một yếu tố không thể thiếu, vài năm sau khi ra trường Lucy thấy mình đang ở đây:
Tham vọng cực đoan của Lucy, cộng với sự kiêu ngạo đi cùng ảo tưởng về giá trị bản thân, đã khiến cho cổ kỳ vọng quá lớn dù mới ra trường vài năm. Và thực tế thì kém hơn hẳn so với những kỳ vọng đó, khiến cho điểm số hạnh phúc “thực tế – kỳ vọng” ra dấu âm.
Tệ hơn nữa, bên cạnh tất cả những điều này, mấy đứa GYPSY còn có một vấn đề nữa bị chung cả thế hệ:

GYPSY hay bị chế nhạo

Hẳn là không ít người từ trường cấp 3 hay cao đẳng của bố mẹ Lucy đã có một sự nghiệp thành công hơn cả bố mẹ cổ. Và theo thời gian, dù có thể họ đã nghe tin này nọ kia về chuyện đó thì hầu hết họ cũng chẳng thực sự rõ chuyện gì đang xảy ra với sự nghiệp của người khác.
Trong khi đó, Lucy lại thấy mình liên tục bị chế nhạo bởi một hiện tượng thời hiện tại: Tạo Dựng Hình Ảnh Trên Facebook.

Mạng xã hội tạo cho Lucy một thế giới nơi mà A) ai làm gì cũng rõ mồn một, B) hầu hết mọi người đều tạo ra một phiên bản thổi phồng của chính họ, và C) những người rộn ràng nhất về sự nghiệp của mình thường là những người có sự nghiệp (hay mối quan hệ) đang tiến triển tốt nhất, trong khi những người phải chật vật thì có xu hướng không đưa tin gì về tình hình của họ. Điều này khiến Lucy cảm thấy, một cách sai lầm, rằng mọi người đang làm rất tốt, càng tăng thêm sự khổ sở của cổ:

Vậy nên đó là lí do Lucy không hạnh phúc, hoặc ít nhất là cảm thấy ức chế và không thỏa đáng trong lòng. Thực ra, Lucy có lẽ đã bắt đầu sự nghiệp hoàn toàn tốt đẹp, chỉ là đối với cổ thì nó đáng thất vọng mà thôi.
Đây là lời khuyên của tôi dành cho Lucy:
1) Hãy cứ tham vọng dữ dội. Thế giới hiện tại vẫn có rất nhiều cơ hội cho những người tham vọng tìm kiếm thành công đầy hoa và thỏa nguyện. Con đường cụ thể có thể không rõ ràng nhưng đi rồi sẽ đến – hãy cứ bắt đầu bước đi từ đâu đó.
2) Hãy thôi suy nghĩ mình đặc biệt. Sự thật là hiện giờ bạn không có gì đặc biệt cả. Bạn chỉ là một người trẻ thiếu kinh nghiệm không có gì nhiều để dâng hiến. Bạn có thể trở nên đặc biệt nếu làm việc thật chăm chỉ trong thời gian dài.
3) Hãy mặc kệ người khác. Thảm cỏ của người khác trông xanh hơn là chuyện bình thường, nhưng trong thế giới tạo dựng hình ảnh hiện tại, thảm cỏ của người khác cứ như là một đồng cỏ đầy vẻ vang. Sự thật là tất cả mọi người đều do dự như nhau, cũng tự vấn bản thân và ức chế như bạn, và nếu bạn cứ tập trung làm việc của mình thì bạn sẽ chẳng bao giờ có lí do gì để đố kỵ người khác cả.
———————————————————————————————————————-
-Note của người dịch-
Trong thế giới không ngừng thao thao về những người trẻ can đảm bạo dạn, chăm chỉ tận hiến, thành công rực rỡ, cuộc đời đầy hoa, thật dễ để chúng ta nghĩ rằng bản thân mình yếu kém, hoặc chỉ cần theo đuổi đam mê là chúng ta sẽ sớm được như họ. Thế giới toàn cầu hóa ngày nay dù mở ra nhiều cơ hội thì con đường thành công vẫn đầy mơ hồ giống như thế hệ cha mẹ, ông bà chúng ta. Chẳng ai thực sự biết bí mật thành công trong cuộc sống cả.
Dẫu vậy, chắc chắn sự nỗ lực nâng cao khả năng bản thân sẽ luôn có lợi cho chúng ta trên con đường sự nghiệp. Con đường sự nghiệp của mình khởi đầu rất chông gai do lựa chọn làm trái ngành học (lại vì đam mê). Mình xuất phát sau những bạn đồng trang lứa, không ít người bây giờ đã lên quản lí, lên sếp. Sau một thời gian dài tự vấn bản thân, mình nhận ra ngành mình đang làm có những đặc thù riêng và bản thân mình cũng có những đặc thù riêng không thể làm được như các bạn mình. Nhưng mình tin rằng, bây giờ rất có thể mình đang ở phía sau các bạn, chỉ cần mình không ngừng tiến bộ thì mình sẽ sẵn sàng nắm lấy cơ hội khi nó đến.
Mình cũng từng tin rằng bản thân mình đặc biệt, là nổi bật, là tài năng khác thường. Cho đến khi một người đàn anh nói với mình:
Em không phải là người đặc biệt cho đến khi em làm điều gì đó đặc biệt!” 
Mình nghĩ điều này đúng với tất cả chúng ta.
Bấm vào đây để bình luận

Để lại bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Quan điểm - Tranh luận

So sánh có giúp bạn phát triển không? Cùng nhìn đại dịch COVID-19 để phân tích thêm

Chúng ta đang sống trong một thế giới phẳng mà ở đó sự so sánh diễn ra hàng ngày, hàng giờ hay hàng năm vì được xem là một trong những động lực thúc đẩy sự cạnh tranh và phát triển của từng cá nhân, của một công ty hay một quốc gia trong cuộc đua hướng đến thành công, vinh quang hay thịnh vượng. Có lẽ vì vậy mà nhiều cuộc thi, giải thưởng vinh danh ở khắp nơi trong mọi ngành nghề, lĩnh vực được tổ chức để so sánh, đối chiếu với các tiêu chuẩn, hệ giá trị của xã hội, tìm ra đội vô địch, người đạt giải quán quân, hay top 3, top 50, top 100. Từ đó, ít nhiều mang đến cơ hội thăng tiến cho con người, danh tiếng của một công ty, uy tín vị thế của một đất nước. Tuy nhiên, đắm chìm trong vòng xoáy của sự cạnh tranh và so sánh: ai tốt hơn ai, công ty nào giỏi hơn công ty nào, quốc gia nào mạnh hơn quốc gia nào liệu có giúp chúng ta tồn tại bền vững?

CHO TÔI XIN MỘT VÉ ĐI TUỔI THƠ

Mình từng trải qua thời tiểu học và trung học, được thầy cô đặt nhiều kỳ vọng, là một học sinh giỏi toàn diện, phải xuất sắc trong tất cả mọi thứ; đến khi đạt được thành tích cao nhất lại bị áp lực “phải” duy trì cái nhất đó “mãi mãi”, rồi lại ganh điểm, xem ai cao hơn mình, rồi quyết tâm lần sau phải cao điểm hơn con nhỏ này, thằng nhỏ đó, rồi chăm chăm học ngày học đêm, ăn xong là học, nhiều khi ngủ mà vẫn mơ đang học. Áp lực cạnh tranh, dẫn đầu và sợ bị thua thiệt khi so sánh với bạn bè trang lứa luôn thường trực trong đầu mình lúc đó. Nghĩ tới là đã thấy “một bầu trời tiêu cực”! Vậy, phải chăng việc so sánh với người khác, hay cạnh tranh vị trí dẫn đầu là không đúng?Mình nghĩ lại, ở thời điểm đó, áp lực là có thật, nhưng thực sự vẫn có niềm vui khi được điểm tốt, hạng cao hay được nhiều người ngợi khen, ngưỡng mộ. Từ đó, lại còn có động lực để mà cố gắng hơn. Ví như lúc đó mà không bị so sánh, chắc mình cứ học cà tàng cho qua ngày đoạn tháng. Thấy cũng thật thảm thương!
Tuy nhiên, mình may mắn vì mặc dù áp lực học nặng nề, nhưng phụ huynh nhà mình chỉ động viên chứ không ép phải “cày”, nhiều khi ba mẹ còn năn nỉ ít học lại, sợ con bị “điên”, nghĩ lại thấy biết ơn ba mẹ hết sức! Sau này, dù không bị thầy cô, cha mẹ để ý, nhưng mình cũng phải tự so sánh với các mục tiêu cá nhân để mà có động cơ phấn đấu. Đến giờ, mình vẫn cho rằng, so sánh hay cạnh tranh không hề sai, mà đó là một động lực của sự phát triển.
Không may mắn như mình, có nhiều đứa bạn, từ thời nhỏ đã hay bị đem ra so sánh với anh em, bạn bè, hàng xóm; khi đến trường thì bị thầy cô có thái độ hoặc lời nói ngụ ý khinh thường về năng lực hoặc trí tuệ so với các bạn khác. Những điều đó ít nhiều tạo ra các tổn thương tâm lý mà có lẽ đến khi trưởng thành cũng không bao giờ quên được. Người có đủ sức mạnh ý chí có thể vượt qua và xem đó là một thử thách khắc nghiệt của cuộc sống. Nhưng ngược lại, có thể làm triệt tiêu hết động lực, mất đi cái niềm kiêu hãnh để phấn đấu vươn lên của một thế hệ.

ĐẾN THẾ GIỚI QUANH TA

Quay lại tình hình thời sự nóng bỏng của dịch Covid-19 trong thời gian gần đây, lại có nhiều trang mạng, bài báo hoặc cá nhân tung tin, giật tít, bày tỏ quan điểm, đại khái kiểu “Việt Nam là nước vừa thoát nghèo mà giỏi hơn cả Châu Âu hay Mỹ trong phòng dịch”, “Ý toang rồi, Mỹ cũng toang, về Việt Nam là an toàn nhất”, v.v… làm mình cũng có phần lo lắng trong dạ! Nhớ lại, hồi trước ngồi nói chuyện phím với đám bạn bè, có đứa còn kiểu chê bai “Việt Nam vậy mà thua Thái Lan 30 năm phát triển, Singapore 50 năm, Nhật Bản 100 năm, bla bla bla” rồi thở dài thườn thượt, không biết bao giờ nước mình mới khá lên nổi. Cũng không xa xôi gì mấy, là chuyện “Bóng đá Việt Nam”, mình rất dị ứng với cái kiểu bình luận bóng đá, khi thì đẩy người ta lên tận mây, lúc thì đạp người ta xuống tận đáy. Thôi thì, nói về tự do ngôn luận và những phát biểu vô tội vạ của cộng đồng mạng có nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, để tập trung vào chủ đề chính là việc mang người này, công ty kia, hay đất nước mình ra so sánh với thế giới thì có nên hay không, và nếu có thì nên cư xử như thế nào cho hợp lý?

QUAN ĐIỂM CÁ NHÂN

Rút ra từ kinh nghiệm bản thân, mình nghĩ thế này, các bậc phụ huynh khi dạy con hay mỗi cá nhân trong quá trình sinh sống, học tập và làm việc, nhất thiết cần vận dụng việc so sánh, đối chiếu đúng nơi, đúng lúc, và đúng chừng mực. Đó là quan điểm bất di bất dịch của mình cho đến hiện tại (tương lai thì không biết, ít nhất là đến khi mình tháo cái bài này xuống hay có một bài đính chính mới). Nhưng khi so sánh cần chú ý mấy điểm sau đây:

(1) Một là, mục đích của việc so sánh là gì? Đó nên là tìm ra nguyên nhân của vấn đề/thực trạng.
Như khi nuôi dạy trẻ nhỏ, bé học kém hơn bạn bè, có thể do vấn đề về thể chất (thiếu dinh dưỡng, bệnh bẩm sinh, di truyền) hay tinh thần (trầm cảm, rối loạn tâm sinh lý theo lứa tuổi); có những năng khiếu hay thiên hướng khác bạn bè (âm nhạc, toán học, văn học, hội hoạ, v.v…) mà mình không nhận ra.
Còn ở khía cạnh cá nhân, ở tuổi đủ nhận thức hơn, so sánh để tìm ra điểm yếu kém của mình, rộng hơn là đất nước mình (nếu mình đủ tầm nhìn) so với người khác/nước khác. Nếu thua kém người khác, có thể là do mình đã đầu tư về công sức, thời gian chưa nhiều bằng bạn (người ta học 3 tiếng/ngày, còn bạn học 3 tiếng/tuần), mình thiếu kinh nghiệm hơn đồng nghiệp (nhân viên mới vào mà so sánh với lương của đồng nghiệp kinh nghiệm 3-4 năm), thậm chí là gia thế của mình không tốt bằng người ấy (bố làm quan thì con được nhờ, đó có gì là sai, miễn không vi phạm pháp luật thôi chớ!), mình không có nhan sắc hay ngoại hình (ta đẹp ta có quyền mà), vân vân và mây mây.
Từ đó, người lớn có thể giúp trẻ định hướng đúng đắn hơn cho việc học tập, phát triển bản thân và nghề nghiệp trong tương lai; còn bản thân mình sẽ đi tìm những công việc, ngành nghề phù hợp với năng lực và những gì mình sở hữu, ở cấp độ rộng hơn, thì có góp ý, đề xuất để giải quyết khó khăn, thực trạng của công ty, đất nước. Chứ so sánh đã đời, rồi kết thúc bằng sự mỉa mai, chán nản thì không những chả có lợi cho thế giới, mà bản thân cũng vô tình gặm nhắm những cảm xúc tiêu cực rồi, đúng không nà?

(2) Hai là, so sánh, đối chiếu phải đúng người và có cơ sở, bằng chứng xác đáng.
Nghĩa là ai, ở vị trí nào, thì nên tự giới hạn mình ở những khía cạnh mà mình có hiểu biết và bằng chứng đầy đủ, tránh nhận xét, phân tích phiến diện, rồi gây hoang mang cho những con người cả tin khác.
Hay là con mình thì muốn làm gì thì làm, còn con người ta thì chớ vội so sánh, khen chê, mập ốm cao thấp đẹp xấu. Đặc biệt là các vấn đề tế nhị, dễ làm người khác tự ái, tổn thương.
Như khi bùng dịch, so sánh, đối chiếu ở phạm vi cá nhân, là để chúng ta có hành xử phù hợp như mang khẩu trang khi ra đường, không tụ tập nơi đông người, thường xuyên rửa tay,v.v… Điều mà các nước Tây phương lúc bắt đầu đại dịch “có vẻ” xem nhẹ (mình dùng từ “có vẻ”, vì cũng chỉ nghe qua truyền thông, chứ thực hư ở từng nơi thì chỉ có người ở đó mới biết) dẫn đến bùng dịch ở nhiều nơi (cái này thì còn chờ nghiên cứu phân tích, chứ cũng không thể kết luận khơi khơi được đâu, bao nhiêu con người Việt Nam du học khắp nơi mà chê cái xứ tiên tiến của người ta thì có gì đó hơi mai mỉa!!!). Mà giả sử đúng đi chăng nữa, thì việc phê phán, chê bai người khác, quốc gia khác cũng không phải là trách nhiệm hay việc nên làm. Xem tiếp mục số (3) nhé!

(3) Ba là, cách truyền đạt kết quả của việc so sánh cho người đối diện, cũng như thái độ của mình với kết quả so sánh như thế nào? Đó nên là trên tinh thần chia sẻ, khiêm nhường, cùng phát triển.
Thấy người thân thua kém bạn bè, thì dành thời gian nói chuyện, tìm hiểu, từ đó đưa ra những lời khuyên phù hợp. Đây không phải là một chuyện dễ dàng, nhưng là bắt buộc! Series về giáo dục của VTV thời gian qua cũng nhắc về khái niệm “Giáo dục cảm xúc” (Emotional education) mà mình thấy khá tâm đắc, ai quan tâm thì có thể lên Google hay Youtube để tìm hiểu thêm nhé! Tựu trung là thay vì nặng lời, chê trách làm tổn thương người khác, hoặc so sánh thẳng thừng về kết quả học tập, thành tích, công việc làm họ áp lực, xấu hổ, gây ra những phản ứng tiêu cực, chống đối; hãy chọn những câu nói nhẹ nhàng “Lời nói không mất tiền mua” là vậy, giúp họ vượt qua khó khăn, làm chủ cuộc sống.
Còn nếu chính mình nhận ra kết quả đó, thì phải giữ thái độ nghiêm khắc và tích cực với bản thân để tìm ra hướng giải quyết, thay vì trách móc, đổ lỗi cho hoàn cảnh, cho người khác. “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân” nha!
Ngược lại, nếu so sánh mà thấy mình hơn người ta thì cũng đừng vội mừng! Ông bà ta vẫn có câu “Đừng ngủ quên trên chiến thắng” hay “Cười người, người cười” mà. Hãy giữ lấy 2 chữ “KHIÊM CUNG” mà sống cho phải đạo. Nói về khía cạnh này, thì mình thấy nên học hỏi người Nhật. Nhiều bạn nhận xét, người Nhật hay “thảo mai” vì không bao giờ nhận mình giỏi, hay nếu được khen thì luôn bảo là “nhờ may mắn thôi, tao còn phải học hỏi nhiều”. Vậy cũng hay đó chứ!

Ví như vừa rồi Việt Nam sản xuất được bộ kit nhanh, mà khi gặp gỡ vẫn khen ngợi Hàn Quốc và yêu cầu bên họ hỗ trợ cho nước mình thêm kit. Theo mình, đó là một đối sách ngoại giao khôn khéo, vừa khen ngợi, đề cao bạn, rồi có thêm test để thử cho dân của mình, nhúng nhường tí thì có gì thiệt hại? Mình giỏi thì người ta sẽ thấy, sẽ biết, chứ đánh trống khua chiêng rồi đến lúc té dập mặt thì cả họ xúm lại cười vào mặt, ngóc đầu không nổi! Chưa kể, tiềm lực kinh tế-kỹ thuật-quốc phòng của các nước Âu-Mỹ thế nào người ngoài cuộc làm sao nắm được. Người ta đã bay lên tới cung trăng thăm chị Hằng, soi rọi đến từng thực thể nhỏ nhất của một phân tử rồi chứ đâu có lởn vởn với con trâu cái cày. Mà dù dân người ta tử vong hay mắc bệnh nhiều hơn mình, thì thay vì mỉa mai, hãy đồng cảm, chia sẻ, xem thất bại của họ làm bài học cho mình. Đó mới là thái độ đúng đắn chứ nhỉ!

(4) Bốn là, mục tiêu/hướng giải quyết sau khi đã so sánh là gì? Nếu có đủ khả năng và chuyên môn thì xông vào đề xuất, giải quyết, không thì im lặng quan sát.
Đối với người lớn, nếu làm tốt bước 1 và 2, nhưng đến đây lại khuyến khích con/hoặc đề ra mục tiêu phải phấn đấu để giỏi hơn bạn A, bạn B thì coi chừng bị phản tác dụng. Hãy hiểu rằng, mỗi đứa trẻ, mỗi cá nhân là một thực thể duy nhất trên thế giới. Mỗi người được cấu tạo từ hàng triệu, hàng tỉ phân tử được quy định bởi bộ gene, không ai giống ai; chưa kể từng phút từng giây cái thực thể ấy lại tiếp xúc với hàng trăm tác động khác nhau từ nội tại (sự tương tác của các phân tử, cơ quan, tổ chức) đến ngoại lai (gia đình, xã hội, môi trường tự nhiên). Dù hai đứa trẻ sinh đôi cùng trứng, sống trong cùng gia đình, cũng chưa chắc đã giống nhau 100% bởi các biến dị về kiểu hình gọi là “thường biến”. Vậy thì, bạn hãy phấn đấu và làm tốt nhất có thể trong khả năng của mình, vì không có ai, kể cả cha mẹ có thể biết được tiềm năng của mình bằng chính mình. Nhưng hãy nhớ rằng, “duy nhất” không có nghĩa là phải luôn khác biệt, ích kỷ, đặt cái tôi cá nhân của mình lên trên mọi lợi ích chung hay quyền lợi của người khác.
Các bạn trẻ lên mạng xã hội, rồi livestream có những phát ngôn thiếu tôn trọng, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác và cho rằng đó là quyền tự do cá nhân hay dũng cảm dám nói lên suy nghĩ của chính mình. Thế có nên chăng? Muốn xã hội, đất nước phát triển, văn minh, thì bản thân của bạn (một trong các mắc xích của tổng thể đó) phải là yếu tố then chốt, phải tiến bộ, hãy văn minh đã, chưa làm được gì cho bản thân, thì đừng đòi người khác phải làm gì cho mình, đòi hỏi trường học phải hiện đại, đất nước phải giàu có bằng cường quốc năm châu!
Trong lúc các lực lượng y tế, an ninh-quốc phòng và các cơ quan hữu quan đang gồng mình chống dịch, bạn hãy dành thời gian ở nhà học tập hay làm gì mà không gây hại cho ai là được. Bởi lẽ, theo mình, tự hào dân tộc và tin tưởng vào các quyết sách của Chính phủ là việc nên làm để cùng chung tay bảo vệ sức khoẻ của cá nhân và cộng đồng. Nhưng thể hiện thái độ và nói năng thế nào là điều mà chúng ta cần cân nhắc. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân mà còn có hệ luỵ đến hình ảnh đẹp về Việt Nam mà nhiều người đang cố gắng xây dựng trong đại dịch.

Tóm lại là, so sánh hay làm gì mà không vi phạm pháp luật là quyền tự do, nhưng hãy giữ ở trong lòng, trong nhà, còn khi đã truyền tín hiệu ra thế giới bên ngoài, bằng bất kỳ phương tiện nào thì cũng ít nhiều ảnh hưởng đến người khác, nhất là những tín hiệu tiêu cực. Hãy nhớ rằng, chỉ nên làm việc có lợi cho mình, nhưng không gây hại cho thế giới xung quanh mình (kể cả con người và môi trường).

Đọc tiếp

Quan điểm - Tranh luận

Bạn ơi, bạn có đang quá tự tin về bản thân?

Khi bạn đang chìm trong tuyệt vọng, một nhà tư vấn tâm lý học nào đó sẽ khuyên rằng “bạn có thể mất tất cả nhưng đừng bao giờ đánh mất sự tự tin”. Thế nhưng, sự tự tin lại không giống như tài năng hoặc tiền bạc, có thể có càng nhiều càng tốt. Sự tự tin một khi trở nên thái quá sẽ lại mang đến những thất bại.

Bài này gồm các phần:
1.Tự tin là gì ?
2.Tại sao cần tự tin ?
3.Nhưng bạn có thể nào đang quá tự tin ?
4.Ảnh hưởng từ việc quá tự tin vào bản thân ?
5.Nguyên nhân gây ra sự tự tin quá mức ?
6.Những góc nhìn về sự tự tin ?
7.Những quy chuẩn xã hội ảnh hưởng lên cách nhìn nhận về sự tự tin ?
8.Tự tin có thể đưa đến hệ quả thế nào về mặt xã hội ?
9.Trẻ em ngày nay quá tự tin ?
10. Tạo dựng sự tự tin đúng nghĩa

TỰ TIN LÀ GÌ ?

Tự tin là hiểu rằng bạn tin tưởng vào khả năng và phán đoán của bản thân, và bạn đánh giá cao bản thân và cảm thấy xứng đáng, bất kể sự không hoàn hảo hay những gì người khác có thể tin về bạn.

Năng lực bản thân và lòng tự trọng đôi khi được sử dụng thay thế cho nhau với sự tự tin, nhưng chúng khác nhau

Chúng ta có được ý thức về năng lực bản thân khi chúng ta nhìn thấy bản thân (và những người khác như chúng ta) làm chủ các kỹ năng và đạt được mục tiêu. Điều này khuyến khích chúng ta tin rằng, nếu chúng ta học hỏi và làm việc chăm chỉ trong một lĩnh vực cụ thể, chúng ta sẽ thành công. Chính kiểu tự tin này khiến mọi người chấp nhận những thử thách khó khăn và tiếp tục đối mặt với những thất bại.

Lòng tự trọng là một ý nghĩa tổng quát hơn mà chúng ta có thể đối phó với những gì đang xảy ra trong cuộc sống của chúng ta và rằng chúng ta có quyền được hạnh phúc.

Ngoài ra, lòng tự trọng một phần xuất phát từ cảm giác mà mọi người xung quanh tán thành chúng ta. Chúng ta có thể hoặc không thể kiểm soát điều này, và nếu chúng ta gặp phải nhiều chỉ trích hoặc từ chối từ người khác, lòng tự trọng của chúng ta có thể dễ dàng bị ảnh hưởng trừ khi chúng ta hỗ trợ nó theo những cách khác.

TẠI SAO CẦN TỰ TIN ?

Trong thời đại bùng nổ thông tin, không khó để bắt gặp những mẩu quảng cáo về các khóa học kỹ năng mềm với lời cam kết cực kỳ hấp dẫn “giúp bạn hoàn thiện khả năng giao tiếp và tự tin trước đám đông, tạo cơ hội thăng tiến trong sự nghiệp”. Thậm chí còn dẫn ra một số trường hợp cụ thể đã thất bại trên đường thăng tiến bởi họ thiếu sự tin trong giao tiếp với bạn bè, đồng nghiệp. Đặc biệt là kém tự tin khi thể hiện năng lực bản thân trước cấp trên.

Trong khi đó, dù cùng một vị trí như nhau, kỹ năng nghề nghiệp hay năng lực có khi còn kém anh A, chị B nhưng các đồng nghiệp C, D lại luôn tỏ ra là người tự tin, năng động trong giao thiệp nên họ dễ dàng nhận được sự quan tâm, niềm tin của cấp trên. Trong các cuộc gặp gỡ, giao lưu với khách hàng quan trọng thì các đồng nghiệp này hẳn sẽ
được sếp lưu ý, tin tưởng giao phó nhiệm vụ đại diện công ty, đơn vị để giao thiệp, tiếp đãi khách hàng nhiều hơn hẳn anh A và chị B. Điều này cũng đồng nghĩa C, D sẽ hiển nhiên có được những cơ hội thăng tiến tốt hơn trong tương lai.

Thực tế cũng cho thấy minh chứng được dẫn giải trong các mẩu quảng cáo trên hoàn toàn có tính thuyết phục. Không chỉ gói gọn trong môi trường công sở mà trong mọi mặt của cuộc sống cũng như trong quá trình học tập, lao động nghệ thuật, tình yêu đôi lứa hay xây dựng hạnh phúc gia đình… vẫn rất cần mỗi người tìm thấy sự tự tin vào năng lực, giá trị của bản thân nếu muốn đạt được thành công.

NHƯNG BẠN CÓ THỂ NÀO ĐANG QUÁ TỰ TIN?  

Phải chăng bạn đang thấy mình “quá chuẩn”? Trong hầu hết mọi trường hợp, biết rõ thế mạnh của mình, có sự kiên định vững chắc và liều lĩnh chính là những phẩm chất đáng ngưỡng mộ. Nhưng khi sự tự tin vượt quá giới hạn khiến bạn thiếu linh hoạt, khiến bạn kháng cự trải nghiệm những điều mới mẻ, khiến bạn không thể lắng nghe người khác, thì nó lại thành một bất lợi cho bạn trên con đường chinh phục thành công và hạnh phúc.

Một số ví dụ phổ biến về sự tự tin thái quá bao gồm đến trễ hẹn vì bạn đánh giá thấp thời gian đi lại hoặc vì bạn đánh giá quá cao khả năng lái xe của mình. Có lẽ bạn giống như một số người nghĩ rằng họ có thể hoàn thành một dự án một cách nhanh chóng, chỉ để kết thúc thời hạn còn thiếu, bởi vì bạn đã hết thời gian do sự lạc quan thái quá . Thông thường, sự tự tin thái quá dẫn đến nỗ lực tối thiểu trong quá trình làm việc với niềm tin sai lầm rằng một nhiệm vụ là dễ dàng hoặc có thể nhanh chóng hoàn thành.

ẢNH HƯỞNG TỪ VIỆC QUÁ TỰ TIN VÀO BẢN THÂN

Quá tự tin vào bản thân có thể gây ra nhiều vấn đề trong cuộc sống cá nhân, xã hội và công việc.

– Bỏ lỡ nhiều cơ hội, như không đảm nhận dự án nào đó vì nó quá dễ hoặc dưới “cơ” bạn
– Ôm đồm quá nhiều, như chấp nhận mọi đề xuất, kể cả cái bạn chẳng có đủ kỹ năng để hoàn thành.
– Hệ quả xã hội, như bị bạn bè cô lập vì cho rằng bạn kiêu căng ngạo mạn.
– Hệ quả công việc, như kiểu bạn bị quá tự cao tự đại mà không có lấy kỹ năng cần thiết.
– Hệ quả trong các mối quan hệ yêu đương, đây có lẽ là kết quả của việc quá quan tâm đến những khả năng và những điều mình làm được, đồng thời thiếu để tâm đến những điều đó ở đối phương.

Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng lòng tự trọng cao có thể đôi lúc đưa đến hệ quả không mong muốn. Đứa trẻ nào có lòng tự trọng càng cao thì lại càng dễ có các hành vi liều lĩnh. Người nào có lòng tự trọng cao thì các mối quan hệ của họ thường không mấy tốt đẹp vì họ hay đổ lỗi cho đối phương khi có bất kỳ vấn đề gì xảy ra với mối quan hệ của họ. Lòng tự trọng cao cũng có mối liên hệ với tần suất diễn ra cao của các hành vi bạo lực và hung hăng.

Nói như vậy không có nghĩa là lòng tự trọng và sự tự tin là những điều tệ hại. Trong một vài trường hợp, thậm chí là hơi quá tự tin cũng thực sự đưa đến thành công. Người có lòng tự trọng cao đôi lúc có thể tự “chế” ra cách để xử lý tình huống, thuyết phục mọi người rằng họ thực sự có những năng lực ẩn đằng sau các tự cảm nhận bị thổi phồng này. Trong một số trường hợp khác, sự tự tin quá mức có thể bị mọi người quy thành lừa dối, thậm chí là chứng ái kỷ (yêu mình quá mức), đây là dạng tính cách có thể khiến một người nhân viên không được những người tuyển dụng hiện tại và tương lai coi trọng

Quá tự tin về năng lực của mình là điều xảy đến với tất cả chúng ta, không ít thì nhiều. Bạn có thể đánh giá quá cao năng lực hoàn thành một công việc nào đó của bản thân theo thời hạn, kiểu như hạn đến rồi mà bạn vẫn chưa xong. Thông tin tốt ở đây là sự tự tin quá mức này thường được bản thân chủ thể tự điều chỉnh. Chỉ sau một vài lần nộp đề án trễ hay công việc kém chất chất lượng là đã đủ để bạn nhìn nhận một cách nghiêm túc về kỹ năng quản lý thời gian của mình. Lần tới khi sắp đến hạn hoàn thành công việc gì đó, khả năng cao là bạn sẽ cố gắng sắp xếp thời gian thông minh hơn và có cái nhìn thực tế hơn về khoảng thời gian bạn cần để hoàn thành công việc.

Chỉ khi nào sự tự tin quá mức này hóa thành thói quen thì những hệ quả nghiệm trọng và kéo dài mới xuất hiện.

NGUYÊN NHÂN GÂY RA SỰ TỰ TIN QUÁ MỨC?

Có nhiều yếu tố khác nhau có thể góp phần làm sự tự tin vượt quá mức. Quá trình nuôi dạy, văn hóa, tính cách, và những trải nghiệm trong quá khứ, hết thảy đều có thể đóng một vai trò nhất định ảnh hưởng lên cách ta cảm nhận về bản thân. Chúng ta, về cơ bản, đều là trung tâm của vũ trụ của riêng mình, vậy nên chẳng có gì ngạc nhiên khi sự nhìn nhận, trải nghiệm, suy nghĩ, nhu cầu và mong muốn của chúng ta đều có xu hướng hiển hiện lù lù trong tâm trí ta. Nhưng tại sao một số người lại hình thành cảm nhận thổi phồng quá mức về bản thân như vậy?

Nghiên cứu cho thấy có một số thiên kiến nhận thức có thể đóng vai trò góp phần hình thành những ý kiến và quan niệm quá mức tự tin. Những thiên kiến này khiến con người ta phiên giải các sự kiện và trải nghiệm phù hợp với thứ ta vốn đã tin, thái độ ta vốn đã có và ý kiến chúng ta vốn đã hình thành. Kết quả là, mọi người thường có xu hướng tin vào cách nghĩ và cách hành xử của bản thân, cho rằng đó là tốt hơn và “đúng đắn” hơn người khác. Điều này có thể khiến con người ta không thể nhìn ra được những ý kiến có lợi, và thất bại luôn cả trong việc nhìn ra những hạn chế có thể có trong cách họ tiếp cận vấn đề. Ảo tưởng rằng bản thân không thể thất bại chính là cái góp phần gây ra tự tin quá mức

NHỮNG GÓC NHÌN VỀ SỰ TỰ TIN

Vậy chúng ta xác định những cấp độ tự tin như thế nào cho phù hợp? Và những cấp độ đó có giống nhau cho tất cả mọi người và tất cả mọi tình huống không? Tự tin không chỉ được kết cấu từ yếu tố tâm lý, mà nó còn bị ảnh hưởng lớn bởi văn hóa.

Ví dụ, nền văn hóa cá nhân có xu hướng tưởng thưởng cho lòng tự tin hơn những nền văn hóa tập thể. Những mong đợi từ xã hội dành cho mức độ tự tin mà con người thuộc xã hội đó nên thể hiện tạo ra một ảnh hưởng mạnh mẽ lên cách ta nhìn nhận về sự tự tin cả ở chính chúng ta và ở người khác.
Vì thế, trong suốt nửa đầu thế kỷ XX, tự tin đôi lúc bị coi là một sự phương hại, tùy vào bạn là ai. Xã hội mong đợi mọi người phục tùng những người nắm quyền hành, bao gồm cả những người lớn tuổi hơn hay người có địa vị xã hội cao hơn. Tự tin ở trẻ em và phụ nữ cực kỳ không được tán thành, vì trẻ em và phụ nữ thường bị quy định là phải nghe lời và cung kính.

Khi những làn sóng văn hóa xoay vần, những mong đợi từ xã hội về sư tự tin cũng thay đổi theo. Con người ta được tạo điều kiện và được động viên để sống độc lập hơn và lòng tự trọng đã trở thành một đặc trưng tính cách được khen ngợi. Cha mẹ muốn con trẻ phải tự tin, muốn chúng biết được điều chúng muốn, và muốn chúng có động lực đạt được mục tiêu của mình.

NHỮNG QUY CHUẨN XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG LÊN CÁCH NHÌN NHẬN VỀ SỰ TỰ TIN

Nhưng cách ta nhìn nhận về sự tự tin không phải lúc nào cũng giống nhau giữa cá nhân này và cá nhân khác.

Ví dụ, nghiên cứu đã phát hiện ra rằng nhà lãnh đạo nữ nào hành xử hệt như nam giới sẽ dễ bị coi là hống hách, hành xử theo cảm tính hay hung hăng. Tiêu chuẩn “kép” này về sự tự tin khiến nữ giới gặp khó khăn hơn trong quá trình thăng tiến nơi làm việc và trong quá trình họ vươn đến những vị trí lãnh đạo. Những hành động cần có để thành công thì cũng là những thứ khiến phụ nữ thường bị trừng phạt nhất khi thể hiện ra.

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng chúng ta có xu hướng trừng phạt người khác khi họ hành xử theo những cách bị xem là vi phạm những quy chuẩn xã hội. Quy chuẩn dạy rằng đàn ông phải tự tin và quyết đoán, còn phụ nữ thì phải ấm áp và bảo bọc. Hành xử khác với những quy chuẩn này có thể gây nhiều hệ lụy cho cả đàn ông và phụ nữ. Đàn ông thiếu quyết đoán thường bị coi là yếu đuối hoặc nhút nhát, còn phụ nữ quá quả quyết thì bị coi là hống hách.

TỰ TIN CÓ THỂ ĐƯA ĐẾN HỆ QUẢ NHƯ THẾ NÀO VỀ MẶT XÃ HỘI?

Trong một nghiên cứu được thực hiện bởi các nhà nghiên tại Đại học Yale, đàn ông thể hiện sự tức giận thực sự có thể đẩy mạnh địa vị trong mắt người khác. Phụ nữ thể hiện sự tức giận tương tự, trái lại, bị xếp vào nhóm năng lực kém hơn và vì vậy chịu mức lương và cấp bậc thấp hơn. Các nhà nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng sự tức giận của phụ nữ có xu hướng bị quy chụp cho những đặc tính bên trong con người họ (“Cô ta là người hay nóng giận”) trong khi đó, cơn giận của đàn ông thì lại bị đổ cho hoàn cảnh bênh ngoài. Điều thú vị là việc ta đưa ra một số cách giải thích dựa trên các yếu tố bên ngoài giải thích cho cơn giận đã xóa bỏ đi những thiên kiến về giới này.

Vậy nên trong nhiều trường hợp, có thể không phải là người ta quá tự tin. Mà là vì những quy chuẩn và khuôn mẫu định kiến về giới khiến con người ta, đặc biệt là phụ nữ, bị phán xét là quá tự tin khi họ thực sự chỉ đang thể hiện một mức độ quyết đoán bình thường mà thôi.

Tuy nhiên, một số cách thể hiện sự tự tin nhất định lại không đưa đến những nguy cơ về công việc và xã hội giống những những cách thể hiện khác. Nhà nghiên cứu Melissa WilliamsLaisa Tiedens phát hiện ra rằng phụ nữ thể hiện ưu thế qua ngôn ngữ cơ thể và cử chỉ nét mặt, như đứng thẳng, nói to dõng dạc, sẽ không gặp phải những tổn thất tương tự như những gì người khác nhìn nhận về họ.

Mặc dù điều này rõ ràng không giải quyết được vấn đề định kiến giới, nhưng những nghiên cứu như vậy thực sự giúp chỉ ra cách giúp ta vẫn thể hiện được sự tự tin mà không bị gắn mác là “tự tin quá lố.”

TRẺ EM NGÀY NAY QUÁ TỰ TIN ?

Một ví dụ khác về cách ta nhìn nhận về sự tự tin có thể bị ảnh hưởng bởi văn hóa đó là nhận xét của người lớn dành cho trẻ nhỏ. Những chỉ trích về giới trẻ, cho rằng trẻ em ngày nay cứ tham gia sự kiện “là có cúp”, “có chơi có thưởng”. Nói cách khác, trẻ được tán dương khen thưởng đơn giản chỉ vì chúng tham gia vào hoạt động, chứ không phải vì nội dung thực sự mà chúng thể hiện. Những lời khen ngợi như vậy giúp xây dựng sự tự tin và lòng tự trọng nơi trẻ. Nhiều người chỉ trích cho rằng cách làm này dẫn đến việc trẻ sẽ cảm thấy mình có quyền hay thậm chí là sinh ra sự sự tin không do năng lực của bản thân. Rồi trẻ lớn lên và vẫn tin rằng chỉ cần có mặt thôi là đủ để thành công, từ đây chúng khó mà chấp nhận được sự thật là thành công chẳng bao giờ đến dễ dàng.

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu như Carol Dweck đã phát hiện ra rằng việc khen ngợi đóng một vai trò mấu chốt trong quá trình xây dựng cái gọi là tư duy cầu tiến. Tư duy là một niềm tin ẩn sâu về sự thông minh và quá trình học hỏi. Những người có tư duy bảo thủ có xu hướng tin rằng thông minh là đặc tính bẩm sinh. Tất cả những ai có tư duy cầu tiến tin rằng mình có thể trở nên thông minh hơn qua từng bước nỗ lực.

Những người có tư duy bảo thủ thường nhượng bộ khi đối mặt với thử thách vì họ tin rằng đơn giản là mình thiếu những đặc tính và kỹ năng bẩm sinh cần để thành công.

Những người có tư duy cầu tiên, ngược lại, có sự tự tin và họ hiểu rằng mình có thể vượt qua thử thách bằng quá trình học hỏi, thực hành và không ngừng nỗ lực.

Những người có tư duy bảo thủ thường nhượng bộ khi đối mặt với thử thách vì họ tin rằng đơn giản là mình thiếu những đặc tính và kỹ năng bẩm sinh cần để thành công.

Những người có tư duy cầu tiên, ngược lại, có sự tự tin và họ hiểu rằng mình có thể vượt qua thử thách bằng quá trình học hỏi, thực hành và không ngừng nỗ lực.

Vậy đâu là cách tốt nhất để xây dựng sự tự tin và một tư duy cầu tiến? Dweck cho rằng những nỗ lực khen ngợi chính là chìa khóa, chứ không phải là kết quả. Khen ngợi giúp trẻ nhận ra những nỗ lực và hành động của bản thân sẽ quyết định kết quả, cái gì giúp trẻ gặt hái được sự tự tin trẻ cần để vững bước về phía trước dù cho có phải đối mặt với thách thức. Cũng không có nghĩa là cứ “hoang phí” lời khen ngay cả khi trẻ chẳng làm gì. Thay vào đó, khen ở đây là công nhận nỗ lực của trẻ chứ không phải chỉ tập trung vào kết quả.

Vậy tại sao những người lớn lại nghĩ thanh thiếu niên bây giờ quá tự tin? Trẻ em ngày nay liệu có quá tự tin vào năng lực của mình?

Quan niệm này xuất hiện có thể là vì những thay đổi trong mong đợi và quy chuẩn văn hóa. Những thế hệ trước được dạy là nên yên lặng, vâng lời, và đừng “chõ” vào việc người khác. “Có mặt thôi chứ đừng có lên tiếng” sẽ là một mô tả lý tưởng khi nói về trẻ con. Văn hóa cũng chuyển dịch, và hiểu biết của chúng ta về sự phát triển và nhu cầu của trẻ cũng thay đổi theo. Vậy nên có lẽ không phải vì trẻ ngày nay quá tự tin – chúng có lẽ chỉ đang thể hiện bản thân ở một mức độ mà vào cái thời là trẻ con, những người lớn bấy giờ không dám tận hưởng.

TẠO DỰNG SỰ TỰ TIN ĐÚNG NGHĨA

Có thể bạn đang quá tự tin vào bản thân? Đối với nhiều người, câu trả lời có lẽ là không. Trong thực tế, mọi người thường gặp phải vấn đề ngược lại – quá ít tự tin. Vậy nên nếu bạn có niềm tin vững chắc về bản thân và sự quyết đoán để theo đuổi thứ bạn muốn trong đời thì quá tốt! Nếu bạn cảm nhận bản thân là người quan tâm và gắn kết với đời sống của mọi người thì mức độ tự tin của bạn đang ở mức hợp lý rồi đấy.

Nếu bạn chỉ tập trung vào bản thân mình và chừa chỗ quá ít cho người khác thì đây hẳn là một vấn đề. Chẳng có gì sai với việc thể hiện sự tự tin, nhưng nếu sự tự tin này được thể hiện tiêu cực theo hướng ái kỷ hay thổi phồng đến mức làm hủy hoại những mối quan hệ của bạn thì mức độ tự tin trong bạn đang ở mức “quá lố”, hoặc rằng bạn đang thể hiện sự tự tin này theo một cách không tốt cho sức khỏe và những mối quan hệ của bạn.

Khi giúp trẻ hình thành mức độ tự tin và tự trọng hợp lý thì khen ngợi những nỗ lực của trẻ chỉ là một phần của tranh ghép hình. Tự tin cũng đến từ việc nhận được tình yêu thương và hỗ trợ từ những người chăm sóc mà trẻ tin tưởng, cũng như những chỉ dẫn dạy dỗ vững chắc giúp cân bằng phần thưởng trẻ nhận ở ranh giới thích hợp. Khi đó, trẻ có thể khám phá thế giới, phát hiện ra những thế mạnh và hạn chế của bản thân, và phát triển khả năng tự điều chỉnh mình.

Vấn đề khi con người quá tự tin là nó thường thổi phồng cách nhìn nhận về bản thân một cách khá rỗng tuếch. Những người nghĩ mình là nhất, thông minh nhất hay giỏi giang nhất, rốt cuộc có khi sẽ là người tệ nhất, ít hiểu biết nhất, và kém năng lực nhất. Trừ khi những người này bị bao quanh bởi những người cũng chẳng nhìn ra được những sai sót này, còn không Hiệu ứng Dunning-Kruger [5] sẽ xuất hiện.

Trong một số trường hợp khác, tự tin quá mức còn là việc ta bỏ qua những nhu cầu của người khác để chỉ chú tâm vào nhu cầu của chính mình. Điều này sẽ dẫn đến những vấn đề lớn trong tất cả các mối quan hệ, bao gồm tình cảm yêu đương, bạn bè, gia đình. Rốt cuộc thì ai sẽ muốn dành thời gian với người mà lúc nào cũng nghĩ mình tốt hơn người khác và người chỉ nghĩ đến bản thân mình?

Vậy ta có thể làm gì để đảm bảo rằng sự tự tin của mình vừa thực tế, đúng nghĩa và được mọi người chấp thuận?

Tập trung vào nỗ lực, không phải vào kết quả. Dù là bạn đang đánh giá thành công của mình hay khen ngợi con trẻ, hãy cố đặt trọng tâm vào những công việc đưa đến kết quả, thay vì vì tập trung vào kết quả. Bạn không thể lúc nào cũng kiểm soát được mọi chuyện diễn ra như thế nào, nhưng cái bạn có thể kiểm soát được là khối lượng công việc, công sức bạn bỏ ra để đạt được mục tiêu.

Không ngừng học hỏi cái mới. Dù cho bạn có tự tin đến đâu về kỹ năng của mình thì hãy không không kiếm tìm thử thách mới. Ta sẽ dễ bị tự tin quá mức nếu ta nghĩ ta biết tuốt mọi thứ của một lĩnh vực nào đó. Tìm ra thử thách để vượt qua không chỉ mài giũa kỹ năng của bạn mà nó còn nhắc nhở bạn rằng có rất nhiều cách tươi mới để nghĩ về mọi thứ.

Lắng nghe những gì người khác bắt buộc phải nói. Tự tin quá mức có thể đôi lúc khiến ta trở nên cứng nhắc và thậm chí là giáo điều. Thay vì cứ mặc định cách của mình là đúng và cách mình là duy nhất, hãy cố giữ một tâm trí rộng mở. Bạn có thể không phải lúc nào cũng đồng ý với người khác nhưng việc lắm nghe để nắm bắt góc nhìn mới là rất quan trọng.

Tự tin thường là thứ mà mọi người đều muốn cải thiện, tuy nhiên đôi khi tự tin quá mức có thể là một vấn đề. Khi sự tự tin trở thành tự kiêu, nó có thể làm mọi người cô lập bạn và khiến bạn khó đạt thành công trong công việc và xã hội. Hình thành một cảm nhận đúng đắn về lòng tự tin là rất quan trọng giúp bạn chạm đến thành công. Tự tin đúng nghĩa sẽ giúp ta tin vào khả năng đương đầu với thách thức và vượt qua trở ngại của mình. Hãy nỗ lực đạt đến sự cân bằng hợp lý, cảm nhận mạnh mẽ về sự tự tin mà không rơi vào vòng xoáy, coi mình là trung tâm của vũ trụ.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

•Brescoll, V. L., & Uhlmann, E. L. Can an angry woman get ahead? Status conferral, gender, and expression of emotion in the workplace. Psychological Science. 2008;19(3): 268-275. doi: 10.1111/j.1467-9280.2008.02079.x

•Stanovich, K. E., West, R. F., & Toplak, M. E. Myside bias, rational thinking, and intelligence. Current Directions in Psychological Science. 2013;22(4): 259-264.

•Williams, M. J., & Tiedens, L. Z. The subtle suspension of backlash: A meta-analysis of penalties for women’s implicit and explicit dominance behavior. Psychological Bulletin. 2016;142(2):165. doi: https://doi.org/10.1037/bul0000039.

THANK YOU FOR READING !!!

Đọc tiếp

Quan điểm - Tranh luận

Thử việc mà “trải nghiệm cho biết” thì coi như vứt!

Chẳng phải ngẫu nhiên bạn cần trải qua ít nhất 2 tháng thử việc để trở thành nhân viên chính thức. Không đơn giản là thời gian thích nghi với môi trường mới, ý nghĩa của quá trình thử việc nằm ở yếu tố “thử” – Thử nghiệm và thử thách.

Thử nghiệm thì ai cũng biết, nhưng thử thách bao gồm những gì? Hiểu được điều ẩn sau sẽ giúp bạn học hỏi và phát triển nhiều nhất từ trải nghiệm này.

Một trang CV sơ lược về quá trình học tập và làm việc chưa bao giờ đủ để nói lên con người ứng viên. Đó là lí do cần có buổi phỏng vấn trực tiếp, kế đến là thử việc.

Điều nhà tuyển dụng muốn trả lời được qua những vòng tuyển chọn này là: Liệu có nên đặt lòng tin vào bạn?

Lòng tin này không chỉ được xây bởi khả năng chứng thực những điều bạn viết trong CV về:

  • Kĩ năng làm việc.
  • Khả năng quản lý thời gian.
  • Khả năng kết hợp giữa suy nghĩ độc lập và hành động tập thể.

Mà còn xây bởi tiềm năng cộng tác trong dài hạn của bạn.

Trong một khảo sát thực hiện bởi Linkedin cho các nhà tuyển dụng, gần 45% người tham gia chọn khả năng thích nghi là ưu tiên khi tuyển dụng một thành viên mới.

Nhiều nhà quản lý cũng chia sẻ nhu cầu về thích nghi tăng cao vì dịch COVID-19 khiến nhiều công ty phải nhanh chóng thay đổi để tồn tại. Vì thế, đây cũng trở thành xu hướng tuyển dụng hiện tại.

Cụ thể, nhà tuyển dụng kỳ vọng được nhìn thấy ở bạn:

  • Kỹ năng thích nghi với phong cách làm việc mới.
  • Cách làm việc của bạn với đồng nghiệp.
  • Sự “đồng cam cộng khổ” của bạn.
  • Khả năng học hỏi và tốc độ tiến bộ của bạn.

Trong suốt quá trình thử việc, nhà tuyển dụng sẽ quan sát từng nhịp bước của bạn, chứ không chờ đến cuối kỳ hay đánh giá dựa vào thành tích sau cùng.

Vì thế, hãy luôn sẵn sàng thể hiện tốt nhất và chú ý quan sát các đồng nghiệp, từ tốn hòa mình vào cộng đồng mới. Cuối cùng rồi bạn sẽ vượt qua vòng thử thách này.

Khi đọc JD (job descriptions: mô tả công việc), phía tuyển dụng có thể viết gộp hoặc ngắn gọn lại các yêu cầu thực tế. Chưa kể mỗi vị trí tại mỗi công ty khác nhau sẽ có những trách nhiệm khác nhau, tuỳ theo cấu trúc và chiến lược kinh doanh.

Bởi vậy, thử việc là cơ hội để bạn có đánh giá thực tế về công việc và tổ chức.

Lúc này, bạn cần giữ cái đầu tỉnh táo và trung lập để đánh giá khách quan: Liệu công việc này có đáp ứng các tiêu chí mình mong đợi? 

Một vài câu bạn có thể tự hỏi là:

  • Liệu bạn có tiếp tục làm nếu công việc không đúng như mô tả?
  • Khối lượng công việc có hợp lý?
  • Vị trí này có hợp với cá tính của bạn?
  • Bạn thoải mái với văn hóa ở đây chứ?

Anh trai tôi đã từng thử việc 2 tháng cho vị trí PR Manager (Quản lý Quan hệ công chúng) chi nhánh Việt Nam của một công ty nước ngoài, để rồi phải từ bỏ bởi những gạch đầu dòng trong JD cứ ngày một dài ra trong khi phúc lợi lại chẳng phản ánh điều đó.

Anh nói công việc ấy là mơ ước của anh, nhưng liệu anh sẽ trụ được bao lâu khi chỉ có 24h một ngày mà phải gánh vác trách nhiệm của 3 bộ phận?

Tựu trung lại, đôi lúc các đầu việc sẽ có sự thay đổi so với thông tin nhà tuyển dụng đưa ra. Nhưng nó nên nằm trong giới hạn chấp nhận được của bạn. Hãy chắc chắn rằng mọi quyết định bạn đưa ra sau kỳ thử việc là lựa chọn chủ động khi đã thấu tỏ mọi ưu, nhược điểm của vị trí này.

Cô bạn thân của tôi vừa từ bỏ gần 10 năm theo đuổi ngành Luật để chuyển sang làm bánh và bán cafe. Bản thân tôi cũng đã tự hỏi mình không dưới 10 lần: Hồi đó tại sao lại chọn ngành này? Con đường sự nghiệp mình đang đi có đúng hướng?

Hẳn là có đôi lúc mọi người sẽ nghi ngờ bản thân. Chẳng phải do chênh vênh 25 hay nghiệt ngã 30. Con người là sinh vật luôn tò mò và khám phá, càng hiểu biết sẽ càng cảm thấy nhỏ bé. Vậy nên những băn khoăn về mình, về nghề khá phổ biến.

Thử việc là giai đoạn đôi bên – nhà tuyển dụng và ứng viên – sẵn sàng cởi mở với nhau.

Vì thế, hãy tranh thủ đặt thật nhiều câu hỏi để xác định điều quan trọng nhất: Liệu đây có phải lựa chọn đúng đắn cho sự nghiệp của bạn? 

Những câu hỏi bạn cần tìm ra trong thời gian này:

  • Tiềm năng của công việc này trong dài hạn?
  • Nó có thực sự giúp bạn đạt được mục tiêu sự nghiệp?
  • Công việc này có tạo lợi thế cạnh tranh về lâu dài?

Khi có được các câu trả lời, hãy thật tỉnh táo để chọn bước đi hợp lý nhất. Một lựa chọn sai lầm có thể khiến bạn bị đẩy rất xa khỏi con đường nghề nghiệp mong muốn. Hay ít nhất, cũng lãng phí thời gian đúng lẽ ra là dành cho lựa chọn phù hợp.

Ngoài ra, không nên lạm dụng việc “thử”. Vì việc cứ đi từ hết nơi này tới nơi khác để trải nghiệm mà không xác định hướng đi rõ ràng sẽ khiến bạn mất điểm trong mắt các nhà tuyển dụng tiềm năng.

Sau mùa dịch này, các doanh nghiệp sẽ thận trọng hơn với các quyết định tuyển dụng và quy trình thử việc sẽ càng được sâu sát hơn. Hãy nắm rõ những thử thách cần vượt qua trong giai đoạn này, bạn sẽ chủ động hơn trong việc tiếp cận quá trình thử việc và đem lại lợi ích cao nhất cho cả bản thân lẫn nhà tuyển dụng.

Huyền – biên tập viên đang trong quá trình thử việc ở Vietcetera chia sẻ:

Không nên mang tinh thần ‘trải nghiệm cho biết’ vào thời gian thử việc.

“Hãy tưởng tượng thời gian thử việc là một bài test cho những kiến thức và kĩ năng cần thiết của công việc này. Có thể bạn sẽ choáng khi phải làm việc với đồng nghiệp mới hay trong vai trò mới, nhưng đừng vội than vãn mà quên rằng nhà tuyển dụng đang âm thầm quan sát bạn.

Hãy để lại ấn tượng đẹp với nhà tuyển dụng dù kết quả sau thời gian thử việc như thế nào.”

Đọc tiếp

Nhiều người đọc