Connect with us

Sống

3 Công thức cho một cuộc sống hạnh phúc, theo tâm lý học

Luận bàn về hạnh phúc trong bối cảnh cao trào của đại dịch liệu có phải lúc? Việc bị mắc kẹt trong nhà khiến ta khó tránh khỏi nhiều bất tiện, nhưng cũng nhờ sự tĩnh lặng bất đắc dĩ ấy, ta mới có cơ hội ngẫm sâu hơn về cuộc đời, điều mà ta chẳng mấy khi làm được trong nhịp sống bận bịu trước đây. Nghĩ lại thì nói về hạnh phúc trong thời điểm này là vô cùng hợp lý.

Không phải tôn giáo, triết học hay các bộ môn nghệ thuật nào khác, bài viết này sử dụng những tư liệu từ hoạt động nghiên cứu khoa học về hạnh phúc để giúp bạn chuẩn bị cho hành trình tạo dựng một cuộc sống đủ đầy và ý nghĩa, dẫn lối bạn trên con đường tìm kiếm hạnh phúc cho riêng mình. Những tư liệu đó được đúc kết qua 3 công thức ngắn gọn sau đây.

Công thức 1: An lạc tự thân = Gen di truyền + Hoàn cảnh + Thói quen

công thức hạnh phúc 1
Công thức hạnh phúc 1: An lạc tự thân = Gen di truyền + Hoàn cảnh + Thói quen

Tại sao là an lạc tự thân mà không phải là hạnh phúc? Nhiều nhà khoa học cho rằng hạnh phúc là một từ quá chủ quan và hàm chứa nhiều sắc thái nghĩa khác nhau. Trong ngôn ngữ thường ngày, hạnh phúc được dùng để ám chỉ nhiều vấn đề, từ đơn thuần cho đến sâu sắc. Trái ngược, an lạc tự thân lại là câu trả lời cho kiểu câu hỏi “Ngẫm lại mọi thứ, bạn cảm thấy như thế nào trong mấy ngày nay – bạn sẽ nói rằng mình rất hạnh phúc, khá hạnh phúc hay không quá hạnh phúc?” như thường thấy trong các bảng khảo sát.

Công thức 1 tóm gọn một khối lượng kiến thức hàn lâm đồ sộ về an lạc tự thân, bắt đầu bằng tính di truyền của hạnh phúc. Nghiên cứu cho thấy di truyền là một yếu tố lớn để xác định “điểm quyết định” của an lạc tự thân, cũng chính là vạch nền tảng mà bạn sẽ quay lại sau khi các biến cố trong cuộc sống thay đổi tâm trạng của bạn. Hai nhà tâm lý học David Lykken và Auke Tellegen từng tiến hành phân tích trên một cặp song sinh được nuôi dạy riêng từ nhỏ và kiểm tra về trạng thái an lạc tự thân khi họ trưởng thành. Kết quả cho thấy yếu tố di truyền ảnh hưởng đến an lạc tự thân chiếm khoảng 44-52%, nghĩa là khoảng một nửa.

Hai yếu tố còn lại là hoàn cảnh và thói quen. Hoàn cảnh — bao gồm cả thuận lợi lẫn bất lợi và xuất hiện vào bất cứ giai đoạn nào trong cuộc đời — chiếm tới ít nhất 10% và nhiều nhất 40%. Nhiều học giả cho rằng, tuy hoàn cảnh đóng vai trò lớn nhưng không quá quan trọng, bởi vì ảnh hưởng của hoàn cảnh không kéo dài quá lâu.

Chúng ta thường nghĩ rằng được thăng chức sẽ khiến ta hạnh phúc mãi mãi, hay bị người yêu “đá” sẽ khiến ta đau khổ trọn đời, nhưng sự thật không phải vậy. Một trong những đặc tính sinh tồn của con người là cân bằng nội môi, hay khả năng nhanh chóng thích nghi với hoàn cảnh. Đây cũng là lý do chính tại sao tiền không thể mua được hạnh phúc, vì chúng ta sẽ quen với những thứ có thể mua được và lại quay trở về điểm quyết định của an lạc tự thân.

Yếu tố còn lại ảnh hưởng đến hạnh phúc lâu dài và nằm trong tầm kiểm soát của chúng ta chính là thói quen. Để hiểu hơn về thói quen, chúng ta cần Công thức 2.

Công thức 2: Thói quen = Niềm tin + Gia đình + Bạn bè + Công việc

công thức hạnh phúc 2

Qua hàng trăm nghiên cứu học thuật của mình, giáo sư Arthur C. Brooks đã đi đến kết luận, hạnh phúc lâu dài đến từ những mối quan hệ, công việc năng suất và các yếu tố siêu việt khác của cuộc sống.

Trước hết, niềm tin ở đây không phải là một đức tin nào cụ thể, mà là bạn có thể tin vào bất cứ điều gì. Theo nhiều nghiên cứu, những niềm tin và triết lý sống tuy khác nhau nhưng đều mang lại hạnh phúc. Bí quyết là tìm ra một nền móng tư tưởng mà qua đó bạn có thể nghiền ngẫm sâu hơn về những bài toán của cuộc sống và gạt những tư lợi hẹp hòi qua một bên để cống hiến cho các giá trị chung.

Tương tự, không có công thức kỳ diệu nào để định hình gia đình và tình bạn. Mấu chốt là luôn vun vén, duy trì những mối quan hệ yêu thương và chân thành. Có một nghiên cứu đã theo chân những sinh viên tốt nghiệp Harvard suốt 75 năm cho đến năm họ hơn 90 tuổi, xem xét tất cả các khía cạnh về sức khỏe và chất lượng sống của họ, nhà tâm lý học George Vaillant đã tóm gọn kết quả bằng một câu: “Hạnh phúc chính là tình yêu. Chấm hết.” Những người có mối quan hệ tốt đẹp với gia đình và bạn bè sẽ phát triển và vươn xa, song điều tương tự sẽ khó xảy đến với những ai không sở hữu các giá trị đó.

Cuối cùng là công việc. Một trong những những phát hiện thiết thực nhất về hạnh phúc cho rằng: nỗ lực làm việc của con người là để tạo ra những ý thức về mục đích sống. Loại công việc nào mới được? Lao động trí óc hay lao động chân tay? Làm nội trợ hay một công việc lương cao? Tất cả đều sai. Điều khiến công việc có ý nghĩa không phải loại công việc bạn làm, mà là khi làm việc, bạn có thể cảm nhận rằng mình đang gặt hái thành công và phục vụ cho lợi ích chung.

Có câu “Tiền không mua được hạnh phúc”, nhưng với giáo sư Arthur Brooks, đúng hơn là “tiền không mua được sự thỏa mãn”. Đây là một trạng thái đã được tâm lý học chứng minh với tên gọi “vòng xoáy khoái lạc” (hedonic treadmill). Nhiều người cảm thấy dù có bao nhiêu tiền cũng không đủ, bởi vì họ thích nghi với hoàn cảnh (có nhiều tiền) rất nhanh và cần nhiều tiền hơn nữa để tìm lại cảm giác hạnh phúc đó.

Để có một ví dụ trực quan, hãy thử nhớ lại lần gần đây nhất bạn được tăng lương. Lúc bạn cảm thấy thỏa mãn nhất là khi nào, có phải là vào ngày sếp thông báo tăng lương cho bạn? Hay là ngày mức lương mới được chuyển vào tài khoản? Sáu tháng sau, cảm giác thỏa mãn đó có còn không?

Đến đây, có lẽ bạn sẽ đi đến kết luận rằng sự thỏa mãn là một điều ngoài tầm với. Tuy nhiên, Công thức 3 sẽ cho bạn một góc nhìn mới về khái niệm này

Công thức 3: Sự thoả mãn = Điều bạn có ÷ Điều bạn muốn

công thức hạnh phúc 3

Nhiều nhà lãnh đạo tâm linh cũng đồng tình với điểm này. Trong cuốn “Nghệ thuật tạo Hạnh Phúc” (tên tiếng Anh là “The Art of Happiness“), Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng: “Chúng ta cần học cách muốn những gì chúng ta có, chứ không phải có những gì chúng ta muốn, vậy mới có được hạnh phúc bền vững và dài lâu.”

Đây không phải là một liều thuốc tiên cho tinh thần mà là một công thức sống vô cùng thiết thực. Rất nhiều người trong chúng ta suốt đời mải miết tìm cách tăng tử số của Công thức 3: tăng mức độ mãn nguyện của bản thân bằng cách tăng những gì đang có. Họ mải miết làm việc, tiêu xài, rồi lại làm việc để được tiêu xài. Song, vòng quay này rồi cũng trở nên vô nghĩa, sự thoả mãn sẽ luôn vuột mất khỏi tầm với của ta.

Bí quyết của sự thỏa mãn là tập trung vào mẫu số của Công thức 3. Đừng ám ảnh với những gì bạn có, bao gồm tiền tài, quyền lực, bạn đời, danh tiếng, mà hãy kiểm soát những gì bạn muốn. Đừng tìm cách có thêm của cải vật chất mà hãy cố gắng giảm bớt những thứ mình muốn và bỏ đi những thứ không cần thiết. Những khao khát khiến tâm can day dứt càng ít thì sự bình yên và mãn nguyện với những gì mình có càng nhiều.

Bài viết của tác giả Arthur C. Brooks tại The Atlantic, được chuyển ngữ bởi Hương Quỳnh.

Bấm vào đây để bình luận

Để lại bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Quan điểm - Tranh luận

Thử việc mà “trải nghiệm cho biết” thì coi như vứt!

Chẳng phải ngẫu nhiên bạn cần trải qua ít nhất 2 tháng thử việc để trở thành nhân viên chính thức. Không đơn giản là thời gian thích nghi với môi trường mới, ý nghĩa của quá trình thử việc nằm ở yếu tố “thử” – Thử nghiệm và thử thách.

Thử nghiệm thì ai cũng biết, nhưng thử thách bao gồm những gì? Hiểu được điều ẩn sau sẽ giúp bạn học hỏi và phát triển nhiều nhất từ trải nghiệm này.

Một trang CV sơ lược về quá trình học tập và làm việc chưa bao giờ đủ để nói lên con người ứng viên. Đó là lí do cần có buổi phỏng vấn trực tiếp, kế đến là thử việc.

Điều nhà tuyển dụng muốn trả lời được qua những vòng tuyển chọn này là: Liệu có nên đặt lòng tin vào bạn?

Lòng tin này không chỉ được xây bởi khả năng chứng thực những điều bạn viết trong CV về:

  • Kĩ năng làm việc.
  • Khả năng quản lý thời gian.
  • Khả năng kết hợp giữa suy nghĩ độc lập và hành động tập thể.

Mà còn xây bởi tiềm năng cộng tác trong dài hạn của bạn.

Trong một khảo sát thực hiện bởi Linkedin cho các nhà tuyển dụng, gần 45% người tham gia chọn khả năng thích nghi là ưu tiên khi tuyển dụng một thành viên mới.

Nhiều nhà quản lý cũng chia sẻ nhu cầu về thích nghi tăng cao vì dịch COVID-19 khiến nhiều công ty phải nhanh chóng thay đổi để tồn tại. Vì thế, đây cũng trở thành xu hướng tuyển dụng hiện tại.

Cụ thể, nhà tuyển dụng kỳ vọng được nhìn thấy ở bạn:

  • Kỹ năng thích nghi với phong cách làm việc mới.
  • Cách làm việc của bạn với đồng nghiệp.
  • Sự “đồng cam cộng khổ” của bạn.
  • Khả năng học hỏi và tốc độ tiến bộ của bạn.

Trong suốt quá trình thử việc, nhà tuyển dụng sẽ quan sát từng nhịp bước của bạn, chứ không chờ đến cuối kỳ hay đánh giá dựa vào thành tích sau cùng.

Vì thế, hãy luôn sẵn sàng thể hiện tốt nhất và chú ý quan sát các đồng nghiệp, từ tốn hòa mình vào cộng đồng mới. Cuối cùng rồi bạn sẽ vượt qua vòng thử thách này.

Khi đọc JD (job descriptions: mô tả công việc), phía tuyển dụng có thể viết gộp hoặc ngắn gọn lại các yêu cầu thực tế. Chưa kể mỗi vị trí tại mỗi công ty khác nhau sẽ có những trách nhiệm khác nhau, tuỳ theo cấu trúc và chiến lược kinh doanh.

Bởi vậy, thử việc là cơ hội để bạn có đánh giá thực tế về công việc và tổ chức.

Lúc này, bạn cần giữ cái đầu tỉnh táo và trung lập để đánh giá khách quan: Liệu công việc này có đáp ứng các tiêu chí mình mong đợi? 

Một vài câu bạn có thể tự hỏi là:

  • Liệu bạn có tiếp tục làm nếu công việc không đúng như mô tả?
  • Khối lượng công việc có hợp lý?
  • Vị trí này có hợp với cá tính của bạn?
  • Bạn thoải mái với văn hóa ở đây chứ?

Anh trai tôi đã từng thử việc 2 tháng cho vị trí PR Manager (Quản lý Quan hệ công chúng) chi nhánh Việt Nam của một công ty nước ngoài, để rồi phải từ bỏ bởi những gạch đầu dòng trong JD cứ ngày một dài ra trong khi phúc lợi lại chẳng phản ánh điều đó.

Anh nói công việc ấy là mơ ước của anh, nhưng liệu anh sẽ trụ được bao lâu khi chỉ có 24h một ngày mà phải gánh vác trách nhiệm của 3 bộ phận?

Tựu trung lại, đôi lúc các đầu việc sẽ có sự thay đổi so với thông tin nhà tuyển dụng đưa ra. Nhưng nó nên nằm trong giới hạn chấp nhận được của bạn. Hãy chắc chắn rằng mọi quyết định bạn đưa ra sau kỳ thử việc là lựa chọn chủ động khi đã thấu tỏ mọi ưu, nhược điểm của vị trí này.

Cô bạn thân của tôi vừa từ bỏ gần 10 năm theo đuổi ngành Luật để chuyển sang làm bánh và bán cafe. Bản thân tôi cũng đã tự hỏi mình không dưới 10 lần: Hồi đó tại sao lại chọn ngành này? Con đường sự nghiệp mình đang đi có đúng hướng?

Hẳn là có đôi lúc mọi người sẽ nghi ngờ bản thân. Chẳng phải do chênh vênh 25 hay nghiệt ngã 30. Con người là sinh vật luôn tò mò và khám phá, càng hiểu biết sẽ càng cảm thấy nhỏ bé. Vậy nên những băn khoăn về mình, về nghề khá phổ biến.

Thử việc là giai đoạn đôi bên – nhà tuyển dụng và ứng viên – sẵn sàng cởi mở với nhau.

Vì thế, hãy tranh thủ đặt thật nhiều câu hỏi để xác định điều quan trọng nhất: Liệu đây có phải lựa chọn đúng đắn cho sự nghiệp của bạn? 

Những câu hỏi bạn cần tìm ra trong thời gian này:

  • Tiềm năng của công việc này trong dài hạn?
  • Nó có thực sự giúp bạn đạt được mục tiêu sự nghiệp?
  • Công việc này có tạo lợi thế cạnh tranh về lâu dài?

Khi có được các câu trả lời, hãy thật tỉnh táo để chọn bước đi hợp lý nhất. Một lựa chọn sai lầm có thể khiến bạn bị đẩy rất xa khỏi con đường nghề nghiệp mong muốn. Hay ít nhất, cũng lãng phí thời gian đúng lẽ ra là dành cho lựa chọn phù hợp.

Ngoài ra, không nên lạm dụng việc “thử”. Vì việc cứ đi từ hết nơi này tới nơi khác để trải nghiệm mà không xác định hướng đi rõ ràng sẽ khiến bạn mất điểm trong mắt các nhà tuyển dụng tiềm năng.

Sau mùa dịch này, các doanh nghiệp sẽ thận trọng hơn với các quyết định tuyển dụng và quy trình thử việc sẽ càng được sâu sát hơn. Hãy nắm rõ những thử thách cần vượt qua trong giai đoạn này, bạn sẽ chủ động hơn trong việc tiếp cận quá trình thử việc và đem lại lợi ích cao nhất cho cả bản thân lẫn nhà tuyển dụng.

Huyền – biên tập viên đang trong quá trình thử việc ở Vietcetera chia sẻ:

Không nên mang tinh thần ‘trải nghiệm cho biết’ vào thời gian thử việc.

“Hãy tưởng tượng thời gian thử việc là một bài test cho những kiến thức và kĩ năng cần thiết của công việc này. Có thể bạn sẽ choáng khi phải làm việc với đồng nghiệp mới hay trong vai trò mới, nhưng đừng vội than vãn mà quên rằng nhà tuyển dụng đang âm thầm quan sát bạn.

Hãy để lại ấn tượng đẹp với nhà tuyển dụng dù kết quả sau thời gian thử việc như thế nào.”

Đọc tiếp

Sống

Cách nói chuyện của bạn kém thu hút? Hãy xem tâm lý học giải thích nhé

Đã bao giờ bạn cảm giác lời nói của mình bị “phớt lờ”, hoặc gặp tình trạng người nghe không chú tâm vào bài thuyết trình của mình và thậm chí hỏi lại những thông tin mình vừa trình bày?

Nội dung chưa phải là tất cả, thành công trong giao tiếp còn bao gồm nhiều yếu tố khác. Đó là giọng điệu, tốc độ, phong cách nói, vốn từ,… và việc xác định đối tượng nghe là ai. Đây đều là những yếu tố quan trọng quyết định khả năng thu hút người nghe và trình bày ý tưởng của bạn.

Cụ thể hơn, tâm lý người nghe bị chi phối như thế nào? Làm sao để khắc phục những nhân tố đó? Hãy cùng Vietcetera đi tìm câu trả lời cho hai câu hỏi trên.

Bất đồng trong văn hóa (quốc gia/vùng miền)

Ngôn ngữ là một phần trong văn hóa. Trong môi trường có sự giao thoa văn hóa rõ rệt như công ty nước ngoài hay trường đại học, bất đồng trong giao tiếp là điều rất dễ xảy ra. Người nghe sẽ cảm thấy bối rối, khó hiểu và thậm chí bất bình khi nhận thông tin sai với quan niệm văn hóa của họ.

Ví dụ, người phương Tây có lối trình bày đi thẳng vào vấn đề, trong khi đó người Việt chuộng sự ý tứ, tế nhị nên có phần vòng vo hơn. Đối với vùng miền, người miền Bắc muốn xưng hô đúng vai vế, còn người miền Nam lại thích được gọi bằng đại từ nhân xưng trẻ hơn tuổi. Một số người lại có thói quen dùng từ địa phương khi nói chuyện.

Khắc phục:

Khi có sự giao tiếp đa văn hóa, cả hai bên nên tìm hiểu trước về bối cảnh văn hóa của nhau, hoặc đặt ra nguyên tắc chung khi giao tiếp trong công việc. (Ví dụ: hạn chế dùng phương ngữ, tóm tắt sự việc trước rồi mới trình bày chi tiết,…).

Bí quyết giao tiếp 2
Trong giao tiếp, việc hiểu biết về khác biệt văn hoá rất quan trọng.

Phong cách nói và phong cách nghe không khớp nhau

Trong cuộc trò chuyện thường có những tín hiệu phi ngôn ngữ đến từ phía người nghe, với hàm ý muốn được phản hồi, chất vấn hoặc cắt ngang. Thậm chí các khoảng ngắt nghỉ, im lặng trong cuộc đối thoại đều mang thông điệp riêng.

Việc giải mã các tín hiệu phụ thuộc vào phong cách nghe của từng người. Khi phong cách nói của bạn không khớp với phong cách nghe của người nhận thông tin, cả hai bên có thể đi đến kết luận sai lệch về nhau.

Khắc phục:

Nắm rõ ý nghĩa của một số tín hiệu giao tiếp phi ngôn ngữ thường gặp sẽ trợ giúp bạn rất nhiều trong việc truyền tải lẫn tiếp nhận thông tin. Những kiến thức này sẽ phần nào tiết lộ phong cách nghe của đối tượng giao tiếp, và bạn có thể dựa vào đó để điều chỉnh thông điệp sao cho khớp.

Theo tác giả Rick Bommelje của cuốn sách”Listening Pays: Achieve Significance through the Power of Listening“, có bốn kiểu lắng nghe như sau:

  • Chú trọng con người: người nghe quan tâm đến những mối quan hệ và việc nắm bắt trạng thái tâm lý của người nói. Nếu người nghe của bạn trong nhóm này, bạn nên chọn hình thức chia sẻ theo kiểu hẹn riêng (ví dụ: đi cà phê) để tăng tính thân mật, hoặc lồng ghép những câu chuyện mang tính cảm xúc.
  • Chú trọng hành động: người nghe muốn biết tóm tắt nội dung chính trước khi trình bày chi tiết. Sự thiếu nhất quán và thiếu mạch lạc sẽ làm họ khó chịu.
  • Chú trọng nội dung: người nghe muốn xem xét vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau. Cần chuẩn bị câu trả lời cho những câu hỏi khai thác đa chiều của họ
  • Chú trọng thời gian: người nghe cần người nói tuân thủ theo thời gian đã thống nhất từ trước. Vì vậy bạn cần nhanh chóng đi vào vấn đề và nắm rõ thời lượng cần thiết để trình bày xong.

Định kiến từ người nghe

Người nghe có thể đánh giá bạn từ định kiến họ đã có từ trước. Chẳng hạn, một nghiên cứu phát hiện khi một người đàn ông nói từ “academy”, người nghe cho rằng anh ấy nói về nghĩa “học viện”. Nhưng nếu một phụ nữ nói từ này thì người nghe cho rằng cô ấy đề cập đến một lễ trao giải.

CEO của Human Partners và là tác giả của cuốn sách “Breaking Through Gridlock: The Power of Conversation in a Polarized World“— Gabriel Grant cho rằng những liên tưởng và định kiến xung quanh bạn sẽ ảnh hưởng đến việc người khác tiếp thu lời bạn nói. Đôi khi người nghe không có ý đồ xấu, chỉ vì họ đã từng có những trải nghiệm không tốt trước đó mà thôi.

Khắc phục:

Xác định tất cả các định kiến có thể gây bất lợi cho việc truyền tải của bạn. Thử đặt những giả thiết mà người nghe có thể liên tưởng hoặc gán ghép cho bạn và làm sáng tỏ trước khi cuộc trò chuyện bắt đầu.

Bí quyết giao tiếp 1
Người nghe có thể đánh giá bạn từ định kiến họ đã có từ trước.

Giọng nói ảnh hưởng đến sự thiên vị

Không thể phủ nhận rằng những yếu tố như ý tứ rời rạc, chọn sai từ ngữ, hoặc nhấn nhá không đúng chỗ sẽ làm giảm độ uy tín của lời bạn nói. Nhưng đôi khi, nguyên nhân chỉ đơn giản là giọng nói của bạn.

Chẳng hạn, một thí nghiệm phát hiện ra rằng những người Mỹ thông thường chuộng “giọng Anh-Anh chuẩn miền Nam” hơn là giọng New York dù cả hai nói những từ y hệt nhau. Thậm chí họ còn nhớ rõ những gì người giọng Anh nói hơn và đánh giá là người đó “thông minh hơn”.

Dù tại Việt Nam vẫn chưa có nhiều nghiên cứu liên quan, nhưng không hề thiếu những tranh cãi giữa “giọng chuẩn” và phương ngữ. Năm 2014, việc biên tập viên nói giọng Huế lần đầu xuất hiện trên VTV đã từng gây tranh cãi. Nhiều người cho rằng VTV phát sóng cho người dân toàn quốc nên biên tập viên cần nói giọng Hà Nội để mọi người đều hiểu. Từ những ví dụ như trên cũng phần nào cho thấy sự thiên vị về giọng nói trong giao tiếp.

Trong một nghiên cứu của phó giáo sư ngành Ngôn ngữ học thuộc Đại học Stanford— Meghan Summer, khi một người phụ nữ và một người đàn ông cùng trình bày một vấn đề, giọng nữ thường được đánh giá thấp hơn khi xét về độ tin cậy, rõ ràng hay dễ hiểu. Ngay cả khi một người đàn ông có giọng nói được cho rằng không đáng tin hay thông minh, anh ta vẫn được đánh giá cao hơn khi so sánh với một người nữ.

Khắc phục:

Việc giữ gìn bản sắc văn hoá và tính đa dạng vùng miền là điều nên làm. Đôi khi đó còn là nét đặc biệt khiến người khác nhận ra và nhớ rõ về bạn. Tuy nhiên, nếu điều đó ảnh hưởng lớn đến công việc hoặc cuộc sống, bạn có thể cân nhắc linh hoạt điều chỉnh lại giọng nói của mình khi cần thiết.

Ngoài ra, nhà nghiên cứu kinh tế học hành vi Iris Bohnet đề xuất trong cuốn sách “What Works: Gender Equality by Design” như sau:

  • Trong tuyển dụng, để lược bớt định kiến xã hội gây bất lợi cho nghề nghiệp của phụ nữ, cần thiết kế bộ câu hỏi theo thứ tự và nội dung thống nhất.
  • Trong buổi họp hoặc thuyết trình, có thể sử dụng phương pháp ghi chép để người nghe xem lại sau. Chữ viết sẽ loại bỏ các yếu tố chủ quan như giọng nói, phong thái hoặc đặc điểm bên ngoài của người nói. Nhờ đó, người nghe có thể tập trung vào nội dung chính thay vì bị xao nhãng bởi các yếu tố trên.
Bí quyết giao tiếp 3
Đôi khi, giọng nói chính là nguyên nhân làm giảm độ đáng tin và thu hút của bạn khi giao tiếp.

Mẹo tăng sức thuyết phục cho giọng nói

Khi nói chuyện, tăng âm lượng lên một chút và chuyển đổi tông giọng (trầm, bổng, ngắt quãng) theo nội dung. Theo nghiên cứu của giáo sư marketing Jonah Berger, “giọng điệu và âm lượng làm tăng cảm giác tự tin nơi bạn, từ đó củng cố thêm tính thuyết phục của nội dung bạn đang nói”.

Ưu tiên gặp mặt trực tiếp (hoặc ít nhất là gọi video) khi đàm phán vấn đề quan trọng. Giọng nói trực tiếp gần gũi và có hồn hơn nên có khả năng ảnh hưởng đến tâm lý người nghe cao hơn so với email và tin nhắn.

Đọc tiếp

Sống

Trước khi quyết khởi nghiệp hay Đi làm, hãy tự vấn 4 câu hỏi sau

“Thời đại khởi nghiệp, làn sóng khởi nghiệp, phong trào khởi nghiệp”, những câu chuyện về khởi nghiệp sớm rồi sở hữu khối tài sản đáng mơ ước đã trở thành đích phấn đấu cho nhiều người trẻ.

Nhưng liệu làm chủ (kinh doanh riêng) có phải là con đường duy nhất để thành công? Và liệu bạn đã thích hợp để theo đuổi nguyện vọng này?

Hãy cùng nhìn vào thực tế của lựa chọn khởi nghiệp và ngẫm thử bạn có chấp nhận những đánh đổi sau đây không.

1.Bạn có chấp nhận loại bỏ khái niệm “vùng an toàn” vĩnh viễn?

Tất nhiên làm bất kỳ công việc nào cũng có lúc cần bước khỏi vùng an toàn. Tuy nhiên với một nhà sáng lập, luôn quay cuồng với sự biến động không ngừng từ môi trường bên ngoài, thì gần như bạn phải phá vỡ vùng an toàn mỗi ngày, mỗi giờ.

Chỉ một sự chần chừ hay thụ động có thể khiến bạn trả những “cái giá” đắt, hay ít nhất đánh mất vài cơ hội quý báu.

Bạn có nằm trong 2% dám từ bỏ vĩnh viễn vùng an toàn?

Ý tưởng thì ai cũng có, bàn về ý tưởng ai cũng nói được, phân tích ý tưởng ai cũng có khả năng, chiến lược ai cũng có thể vẽ ra.

Điều khiến một người sáng lập khác với nhân viên là họ thực sự dám làm và dám chịu hoàn toàn trách nhiệm cho ý tưởng đó.

Nói vậy không có nghĩa làm kinh doanh thì không cần chuẩn bị. Chuẩn bị kỹ và suy tính từng chút một các nước đi kinh doanh là bước chuẩn bị nhiều người lường trước.

Nhưng suy tính để làm sao bứt phá mạnh mẽ ra khỏi mọi quy tắc an toàn của bản thân, mỗi giây phút đều quả quyết, lì lợm, dám đương đầu rủi ro thì chưa nhiều người nghĩ đến.

Con đường biến “good idea” thành “good business” có lắm gian truân, thử thách, thậm chí đánh đổi, mất mát. Và việc dám chấp nhận những đánh đổi này hay không sẽ quyết định lựa chọn sự nghiệp của bạn.

2.Bạn có chịu được cảm giác “sở hữu một doanh nghiệp”?

Là đầu tàu, mọi thứ về doanh nghiệp sẽ xoay quanh bạn. Đây không phải sự quan tâm dành cho các ngôi sao, mà là áp lực đến ngộp thở vì tất cả thành bại đều nằm ở bạn.

Tất cả quyết định của bạn được mọi người trong công ty trông đợi. Ai cũng muốn hỏi ý kiến bạn và chỉ một quyết định thiếu sáng suốt sẽ ảnh hưởng đến cả hệ thống. Định hướng của bạn chính là hơi thở của công ty, định hướng có vấn đề, bạn sẽ hiểu thế nào là “khó thở”.

Chủ doanh nghiệp sẽ luôn ám ảnh về tối ưu mọi hoạt động. Một mảng hoạt động không tốt cũng đem đến sự bất an.

Vì thế, hiển nhiên là thời gian của bạn gần như dành toàn phần cho công việc.

Thời gian đầu luôn là khoảng tất bật nhất. Vận hành “ngốn” nhiều thời gian hơn vì quy trình chưa hoàn chỉnh, hoạt động chưa vào guồng. Thời gian của bạn gần như là thời gian ở công ty.

Đó chính là cảm giác hy sinh cho đứa con của mình. Đặc biệt với startup, từ quá trình phôi thai, phát triển, trưởng thành, nếu không dựa vào tâm huyết, sự tập trung và hy sinh của người chủ, thì… cũng không biết phải dựa vào điều gì.

Áp lực của việc sở hữu một công ty còn đến từ những cảm xúc không thoải mái và khó xử: sa thải một nhân viên, gọi vốn thất bại, bất đồng quan điểm với đối tác,… Và đôi khi, có thể bạn sẽ cảm thấy như thế giới đang chống lại mình.

Hãy chắc chắn bạn chịu được tất cả cảm giác trên. Đó là bản lĩnh của người đứng đầu tập thể.

Còn nếu không thì sao? Chẳng sao cả! Không làm chủ bạn vẫn có thể cống hiến bằng cách thực thi công việc ở công ty và hoàn thành trách nhiệm của mình. Không làm chủ cũng được, hãy làm chủ cần đến bạn.

3.Bạn phát huy tốt nhất năng lực khi đóng vai trò gì?

Đằng sau việc phát triển doanh nghiệp để dẫn đầu thị trường là cả một chặng đường với nhiều chướng ngại: chuẩn hóa và tinh gọn các quy trình, đào tạo đội ngũ đồng bộ, cân bằng tài chính, phát triển nhân sự, hoạch định marketing,…

Người chủ không phải người giỏi nhất trong tất cả lĩnh vực, nhưng có độ hiểu biết nhất định đủ để đưa mọi thứ vào tầm kiểm soát.

Vậy nên, người chủ doanh nghiệp cần nắm một lượng kiến thức, kỹ năng khá rộng, đặc biệt là quản trị, nhân sự, tài chính để vận hành doanh nghiệp.

Quan trọng hơn hết, một khi đã làm chủ, hãy chắc chắn bạn có sự thông thạo nhất định trong lĩnh vực mình hoạt động. 

Ví dụ, các công ty bất động sản mới hiện nay hầu hết có chủ là những nhân viên sale dày dạn trong ngành. Họ vừa dùng kiến thức nền có sẵn để đào tạo đội ngũ và hình thành định hướng cho công ty, vừa tối ưu các công việc khác như chuẩn hóa quy trình và giấy tờ hay các công việc về back office (vốn không phải thế mạnh của sales).

Có những người chỉ đạt điểm 8, nhưng khi kết hợp mọi thứ, họ có một màn trình diễn điểm 10.

Người giỏi nhất trong lĩnh vực của mình chưa chắc có thể dẫn dắt một doanh nghiệp trở nên giỏi nhất trong lĩnh vực đó. Nếu chỉ muốn mở rộng hiểu biết và khả năng trong một lĩnh vực cụ thể, việc phát triển bản thân trở thành một chuyên gia ai cũng muốn chiêu mộ không phải ý tưởng tồi.

4. Bạn có lường trước những khó khăn về tài chính?

Thực tế, để tự kinh doanh thì nguồn tài chính ban đầu cực kỳ quan trọng. Không phải ngẫu nhiên mà các startup đều khao khát gọi nguồn vốn lớn.

Chi phí hoàn thiện sản phẩm là khoản đầu tư lớn hiện hữu đầu tiên (đặc biệt doanh nghiệp có đội IT thì phí còn cao hơn).

Khoản thứ hai là phí marketing. Rõ ràng một sản phẩm tốt cần được marketing xứng đáng. Và việc marketing này ngày càng cạnh tranh vì số lượng tên tuổi gia nhập thị trường đang gia tăng chóng mặt.

Ngoài ra nếu tính thêm các khoản phí cố định như điện nước, mặt bằng,… bạn sẽ thấy đường tới doanh thu còn khá xa vời, mà phần đầu tư thì lại có hạn. 

Hành trình gian khổ để kiếm tiền của một startup.

Vượt qua giông bão đầu tiên, bạn sẽ tự tin hơn bước vào… rất nhiều đoạn giông tố tiếp theo. Khi này, hãy tính tới khoản đầu tư để mở rộng nguồn lực, thị trường, công nghệ…

Vậy nên, đầu tiên khi khởi nghiệp, hãy hỏi bản thân: tiền đâu?

Từ một nhân viên chuyển thành nhà sáng lập cần những điều kiện gì?

Kết luận

Tóm lại, mỗi con đường chúng ta lựa chọn đều mang tới trải nghiệm riêng. Khởi nghiệp, làm chủ cần một sự đam mê, lăn xả nhất định. Nhưng đi làm công cũng cần những cống hiến hết mình.

Người dẫn đầu khá quan trọng. Nhưng không có người theo chân thì người dẫn đầu cũng không tồn tại. Bất kỳ quyết định nào cũng là quyết định đúng nếu bạn cảm thấy thoải mái và luôn hứng khởi với sự lựa chọn của mình.

Đọc tiếp

Nhiều người đọc